Bản án 43/2020/HSST ngày 26/05/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 43/2020/HSST NGÀY 26/05/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 26/5/2020 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7,thành phố .HCM xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 52/2020/TLST-HS ngày 24/4/2020, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn B; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: /; Sinh ngày 15/5/1988; Tại: Tp.Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: số A ấp B, xã C, huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: lớp 7/12; Nghề nghiệp: Không; Họ và tên cha: Nguyễn H (sinh năm: 1954); Họ và tên mẹ: Nguyễn V (sinh năm: 1958); Anh chị: 05 người (lớn nhất sinh năm không rõ, nhỏ nhất sinh năm không rõ); Vợ: Nguyễn L, sinh năm: 1984; Con: 02 người (lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2016); Tiền án; Tiền sự: chưa có; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/11/2019; Có mặt tại phiên Tòa.

Bị hại: Công ty TNHH F; trụ sở: số I Đường Y, phường E, quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ; địa chỉ chi nhánh: số V đường X, phường K, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Ông Đoàn Q, sinh năm 1965; chức vụ: Tổng Giám đốc; địa chỉ: số Z đường R, Phường W, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Châu D, sinh năm 1996; địa chỉ: số Q đường H, phường A, Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk. (Vắng mặt)

2. Ông Nguyễn S, sinh năm 1968; địa chỉ: số FF chung cư T, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

3. Ông Trần H, sinh năm 1979; địa chỉ: EE đường MP, Phường J, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

4. Công ty cổ phần dịch vụ B vệ G; địa chỉ: số HH đường OO, Phường EE, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt) Người đại diện theo ủy quyền: ông Trần Đ, sinh năm 1991; địa chỉ: Xã L, huyện Q, tỉnh Hà Tĩnh. (Giấy ủy quyền số 18/GUQ/2019 ngày 28/11/2019) (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 25/11/2019, Nguyễn B điều khiển xe máy hiệu YMH Maxneo, biển số: F từ huyện Nhà Bè đi về hướng Quận 7 tìm kiếm tài sản sơ hở để trộm cắp lấy tiền tiêu xài. Trên đường đi B lấy biển số xe mô tô: K (nhặt được biển số trên đường Phạm Hùng, không rõ địa điểm) gắn vào xe để tránh bị phát hiện. Trước khi đi, B đem theo 01 khóa số 10, 01 tô vít làm công cụ trộm xe. Đến khoảng gần 15 giờ 30 phút cùng ngày, B điều khiển xe trên gắn biển số: K vào bãi giữ xe tại Chung cư S, phường P, Quận 7. B thấy xe mô tô hiệu SH màu đỏ, biển số: T, dùng khóa 10 tháo biển số: K gắn vào xe SH trên, còn biển số: T, B đặt trên sàn để chân của xe SH. B điều khiển xe SH chạy ra đến chốt kiểm soát ra-vào của hầm giữ xe. Anh Trần Đ là nhân viên B vệ xét thẻ xe quan sát màn hình thấy xe SH B đang điều khiển ra không đúng với xe B vào ban đầu, anh Đoàn giữ xe SH gắn biển số: K lại, bị phát hiện, B bỏ xe chạy bộ, anh Đ báo cho anh Nguyễn T, Dương Đ đang trực B vệ gần đó truy đuổi bắt giữ B, giao Công an phường Tân Phong xử lý.

* Vật chứng thu giữ:

- 01 xe mô tô hiệu SH150i màu đỏ, biển số: T; SM: F08E-1006879, SK: ZDCKF10A09F006929. Qua xác minh chủ sở hữu là Công ty TNHH F gửi tại bãi xe từ ngày 21/11/2019. Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an Quận 7 đã tiến hành trả cho Công ty TNHH F theo Quyết định xử lý vật chứng số 08 ngày 06/02/2020. Bản Kết luận định giá số: 408/KL-HĐĐGTTHS ngày 03/12/2019 của hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự, kết luận: xe máy hiệu SH 150i biển số T, số khung:A09F-006929, số máy: F08E-1006879 đã qua sử dụng, có giá trị là 71.000.000 đồng;

- 01 khóa mở số 10;

- 01 biển số: K;

- 01 biển số: F;

- 01 xe máy hiệu YMH Maxneo, màu xanh, không có biển số, số khung:

VZ139FMB-1-018232, số máy: 39FMB số I8232, B khai mua xe trên đường H, Quận 8 của một người (không rõ nhân thân, lai lịch) không có hợp đồng, có giấy đăng ký xe biển số: F mang tên Châu D. Ông Châu D là cha của D khai. D hiện đang du học tại Mỹ, D đã cho xe nêu trên cho anh Nguyễn S. Anh S khai vào năm 2018, bán xe trên cho một người không rõ nhân thân, lai lịch tại Quận 8, anh không có yêu cầu gì về xe trên.

* Về phần dân sự:

Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu.

Tại bản cáo trạng số 60/CT-VKSQ7 ngày 22/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, truy tố bị cáo: Nguyễn B (có lý lịch nêu trên) về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên Tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác phản ảnh trong hồ sơ.

Đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn B là người thực hiện lén lấy cắp 01 xe mô tô hiệu SH150i màu đỏ, biển số: T, giá trị được định giá là 71.000.000 đồng (bảy mươi mốt triệu) Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” và thuộc trường hợp phạm tội “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân, gây mất trị an xã hội. Phải xử lý nghiêm khắc, tương xứng để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa.

Xét, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả lại người bị hại, lần đầu bị cáo phạm tội. Nên, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo - theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại đã nhận lại tài sản, nên Tòa không xét.

Vật chứng đang thu giữ:

Xét, cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ chìa khóa và biển số xe. Riêng xe máy đang thu giữ, chưa chứng minh được chủ xe hợp pháp, nên tiếp tục thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, hết thời hạn thông báo thì xử lý theo quy định về tài sản vắng chủ.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự Xử phạt: Nguyễn B, 02 (hai) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày: 25/11/2019 3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự Tịch thu tiêu hủy: 01 khóa mở số 10; 01 biển số: K; 01 biển số: F;

Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng thời hạn 06 (sáu) tháng đối với 01 xe máy hiệu YMH Maxneo, màu xanh, không có biển số, số khung: VZ139FMB-1-018232, số máy: 39FMBsố I8232 để tìm chủ xe hợp pháp. Quá thời hạn thông báo, giao Ủy ban nhân dân Quận 7 xử lý theo quy định về tài sản vắng chủ.

(Toàn bộ vật chứng trên ghi nhận tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 71 ngày 27/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7) 4. Áp dụng Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản sao án.


9
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 43/2020/HSST ngày 26/05/2020 về tội trộm cắp tài sản

    Số hiệu:43/2020/HSST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 7 - Hồ Chí Minh
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:26/05/2020
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về