Bản án 43/2018/HSST ngày 02/08/2018 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA KAR, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 43/2018/HSST NGÀY 02/08/2018 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Ngày 02 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2018/HSST ngày 17/7/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2018/HSST- QĐ ngày 11/6/2018 và quyết định hoãn phiên tòa số 08/2018/QĐ-HPT, ngày 27/7/2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đình B, sinh năm: 1987 tại: Nghệ An; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã E, huyện KP, tỉnh ĐăkLăk; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Nguyễn Đình T, sinh năm 1960; Con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1964; hiện cư trú tại thôn B, xã E, huyện CP, tỉnh Gia Lai; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Hiện nay, bị cáo đang được tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện EaKar. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

1. Bà Nguyễn Thị S (đã chết)

2. Chị Cao Thanh N - Sinh năm: 1992 (Có mặt)

Người đại diện hợp pháp của người bị hại bà Nguyễn Thị S: Ông Cao Văn B – Sinh năm: 1952 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Đều cư trú tại: Thôn 9, xã EĐ, huyện EK, tỉnh Đăk Lăk.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Hợp tác xã vận tải thương mại, dịch vụ vận tải TH

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Trung Quốc T (Vắng mặt).

Địa chỉ: 69/5 B, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

* Người làm chứng:

1. Ông Trương Đình V, sinhnăm: 1990 (Vắng mặt)

Trú tại: Tổ dân phố 6, thị trấn P, huyện KP, tỉnhĐăkLăk.

2. Ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm: 1989 (Vắng mặt)

Trú tại: Thôn 7, thị trấn E, huyện EK, tỉnh ĐăkLăk.

3. Ông Lê Hồng P, sinh năm: 1970 (Vắng mặt) Trú tại: Thôn 1, xã H, huyện K P, tỉnh Đăk Lăk.

4. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1978 (Vắng mặt)

Trú tại: Thôn 10, xã EĐ, huyện E K, tỉnh Đăk Lăk.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đình B là tài xế lái xe ôtô chở khách cho nhà xe H (có địa chỉ tại khối A, thị trấn E, huyện EK), chạy tuyến từ huyện EK đi Thành phố H và ngược lại. Vào khoảng 18 giờ ngày 14/02/2018, B cùng với anh Lê Hồng P (cũng là tài xế lái xe cho nhà xe H) được giao điều khiển xe ôtô biển số 51B-257.99 chở khách từ Thành phố H về huyện EK. B và anh P chia nhau để điều khiển xe, anh P điều khiển xe từ Thành phố H về trạm dừng chân B (tỉnh B), còn B điều khiển xe từ trạm dừng chân B về huyện EK. Khoảng 5 giờ 30 ngày 15/02/2018, sau khi trả khách xuống khu vực xã E, huyện EK, B điều khiển xe ôtô 51B-257.99 đi từ xã E ra Quốc lộ 26 và đi theo Quốc lộ 26 hướng từ tỉnh ĐăkLăk đi tỉnh Khánh Hòa để đi về thị trấn EK. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, B điều khiển xe ôtô đi đến đoạn Km 95 + 50m Quốc lộ 26, thuộc địa bàn thôn 10, xã EĐ, huyện EK, lúc này do B ngủ gật, không quan sát phía trước nên đã để xe ôtô do mình điều khiển đi sang làn đường bên phải và đâm vào xe môtô biển số 47F1- 423.05 do chị Cao Thanh N điều khiển chở bà Nguyễn Thị S đang đi ở làn đường bên phải phía trước cùng chiều gây tai nạn. Hậu quả: Bà S bị tử vong, chị N bị thương, xe ôtô và xe môtô bị hư hỏng. Bản thân Nguyễn Đình B đã có giấy phép lái xe ôtô hạng E do Sở Giao thông vận tải tỉnh ĐăkLăk cấp ngày 05/01/2017.

Qua khám nghiệm hiện trường xác định điểm đụng (vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện chiếu vuông góc xuống mặt đường) được xác định nằm trên phần đường nhựa bên phải và cách mép đường nhựa bên phải theo hướng từ hướng ĐăkLăk đi Khánh Hòa: 1m78, cách tâm trục trước xe mô tô biển số 47F1- 423.05 là 41m20, cách tâm trục sau bên phải xe ôtô biển số 51B-257.99 là 78m70.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe ôtô biển số 51B-257.99 và 01 xe môtô biển số47F1- 423.05, màu sơn đỏ - đen, nhãn hiệu Hon Da, loại xe ViSion. Các vật chứng này hiện nay, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.

Tại bản kết luận pháp y tử thi số 108/PY-T.Th ngày 16/3/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh ĐăkLăk kết luận: Nguyên nhân tử vong của bà Nguyễn Thị S là do đa thương, nứt xương sọ/TNGT.

Tại bản kết luận pháp y số 473/PY-TgT ngày 05/4/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh ĐăkLăk kết luận: Chị Cao Thanh N bị đa thương, tụ máu nội sọ, yếu ½ người trái, gãy 02 xương sườn, tỷ lệ thương tích 45%.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 23/2018/KL-HĐ992 ngày 17/4/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện EK kết luận: Chiếc xe môtô biển số 47F1- 423.05 sau tai nạn bị hư hỏng thiệt hại trị giá 30.000.000đồng; chiếc xe ôtô biển số 51B-257.99 sau tai nạn bị hư hỏng thiệt hại trị giá 15.070.000đồng. Tổng thiệt hại trị giá 45.070.000đồng.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Đình B cùng với chủ xe ôtô biển số 51B- 257.99 đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 210.000.000đồng, trong đó bị cáo bồi thường 170.000.000đồng và đã được đại diện gia đình bị hại làm đơn bãi nại, đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự; bị cáo cũng đã đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được.

Tại bản cáo trạng số 30/KSĐT-HS ngày 11/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar đã truy tố: Bị cáo Nguyễn Đình B về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đình B khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar đã truy tố. Bị cáo khai nhận: Vào khoảng 05 giờ 30 ngày 15/02/2018, bị cáo điều khiển xe xe ôtô 51B-257.99 đi từ xã E ra Quốc lộ 26 và đi theo Quốc lộ 26 hướng từ tỉnh ĐăkLăk đi tỉnh Khánh Hòa để đi về thị trấn EK, huyện EK. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, B điều khiển xe ôtô đi đến đoạn Km 95 + 50m Quốc lộ 26, thuộc địa bàn thôn 10, xã EĐ, huyện EK, lúc này do B ngủ gật, không quan sát phía trước nên đã để xe ôtô do mình điều khiển đi sang làn đường bên phải và đâm vào xe môtô biển số 47F1- 423.05 do chị Cao Thanh N điều khiển chở bà Nguyễn Thị S đang đi ở làn đường bên phải phía trước cùng chiều gây tai nạn. Làm bà Nguyễn Thị S tử vong tại chỗ và chị Cao Thanh N bị thương nặng. Xe mô tô và xe ô tô bị hư hỏng nặng.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện EaKar giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

- Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1, Khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt: Nguyễn Đình B từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng.

Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện EaKar trả 01 xe ôtô biển số 51B-257.99 và 01 xe môtô biển số 47F1- 423.05, màu sơn đỏ - đen, nhãn hiệu Hon Da, loại xe ViSion.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong nên không đề cập đến để giải quyết.

Tại phần tranh luận: Bị cáo không tranh luận với quan điểm của đại diện VKS, bị hại chị Cao Thanh N không có ý kiến tranh luận với quan điểm của đại diện VKS đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa.

Tại phần lời nói sau cùng bị cáo tỏ thái độ ăn năn và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo Nguyễn Đình B tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được lưu trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn thực tế khách quan. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận: Vào khoảng 06 giờ ngày 15/02/2018, bị cáo điều khiển xe xe ôtô 51B-257.99 đi đến địa bàn thôn 10, xã EĐ, huyện EK, lúc này do B ngủ gật, không quan sát phía trước nên đã để xe ôtô do mình điều khiển đi sang làn đường bên phải và đâm vào xe môtô biển số 47F1- 423.05 do chị Cao Thanh N điều khiển chở bà Nguyễn Thị S đang đi ở làn đường bên phải phía trước cùng chiều gây tai nạn. Làm bà Nguyễn Thị S tử vong tại chỗ và chị Cao Thanh N bị thương nặng. Xe mô tô và xe ô tô bị hư hỏng nặng

Như vậy đã có đủ cơ sở pháp lý để chứng minh hành vi của bị cáo Nguyễn Đình B phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 260BLHS 2015.

Tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến trật tự an toàn khi tham gia lưu thông trên đường bộ. Ngoài ra hành vi của bị cáo còn ảnh hưởng đến trật tự tại địa phương.

Bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức, bị cáo đã được học luật giao thông đường bộ và đã được cấp giấy phép lái xe hạng E1 nên khi tham gia giao thông phải chấp hành nghiêm chỉnh Luật giao thông đường bộ, giữ tinh thần, sức khỏe tỉnh táo, bình tĩnh để điều khiển phương tiện, điều khiển phương tiện đi đúng làn đường. Mặc dù nhận thức được điều đó nhưng bị cáo khi tham gia giao thông đã điều khiển xe ô tô đi không đúng phần đường do ngủ gật nên đã gây tai nạn nghiêm trọng làm bà Phạm Thị S tử vong, chị Cao Thanh N bị thiệt hại 45% về sức khỏe, thiệt hại về tài sản là 45.070.000đồng, hành vi của bị cáo đã vi phạm Điều 13 Luật giao thông đường bộ. Với hành vi nêu trên của bị cáo, Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt phải xem xét đến nhân thân bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ tương xứng với hành vi bị cáo gây ra. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, sau khi gây tai nạn bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình người bị hại số tiền 170.000.000đồng và được gia đình bị hại làm đơn bãi nại ngày 06/4/2018. Tại phiên tòa hôm nay người bị hại cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Căn cứ vào các tình tiết nêu trên Hội đồng xét xử cần áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Xét thấy bị cáo B có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội cũng đảm bảo được tính giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội. Do vậy, HĐXX cần áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 xem xét cho bị cáo Nguyễn Đình B được hưởng án treo. Cần giao bị cáo về cho UBND xã E, huyện KP kết hợp với gia đình quản lý giáo dục cũng đủ điều kiện răn đe giáo dục đối với bị cáo.

Do đó, xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp, có căn cứ nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

[4] Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện EaKar trả 01 xe ôtô biển số 51B-257.99 và 01 xe môtô biển số 47F1- 423.05, màu sơn đỏ - đen, nhãn hiệu Hon Da, loại xe ViSion cho các chủ sử hữu hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong, đồng thời người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại đã có đơn bãi nại không yêu cầu về phần bồi thường nên Hội đồng xét xử không đề cập đến để giải quyết.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Đình B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giaothông đường bộ’

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản1, Khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Đình B 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02(hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Đình B cho Ủy ban nhân dân xã E, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk kết hợp với gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Nguyễn Đình B thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách bị cáo Nguyễn Đình B nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện EaKar trả 01 xe ôtô biển số 51B-257.99 và 01 xe môtô biển số 47F1- 423.05, màu sơn đỏ - đen, nhãn hiệu Hon da, loại xe ViSion cho các chủ sử hữu hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự nên không đề cập đến để giải quyết.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo Nguyễn Đình B phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại chị Cao Thanh N có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.


70
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 43/2018/HSST ngày 02/08/2018 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

    Số hiệu:43/2018/HSST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ea Kar - Đăk Lăk
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:02/08/2018
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về