Bản án 43/2018/HNGĐ-ST ngày 15/11/2018 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHỔ YÊN - THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 43/2018/HNGĐ-ST NGÀY 15/11/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 15 tháng 11 năm 2018 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 165/2018/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2018 về “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2018/QĐXX-ST ngày 23/10/2018 giữa các đương sự.

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Diệu H, sinh năm 1993 (có mặt)

Địa chỉ: Xóm B, xã B, TP Sông Công, tỉnh Thái Nguyên;

Bị đơn: Anh Nguyễn Thành L, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Địa chỉ: xóm T, xã T, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diệu H trình bày: Chị và Nguyễn Thành L kết hôn tháng 1/2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Trước khi kết hôn có được tìm hiểu, kết hôn trên cơ sở tự nguyện.

Sau khi kết hôn, chị về làm dâu, chung sống cùng gia đình anh L tại xóm T, xã T, Phổ Yên, Thái Nguyên. Từ khi chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do anh L không chịu làm ăn mà sa ngã vào tệ nạn lô đề, cờ bạc. Chị và gia đình anh đã phải trả nợ cho anh L rất nhiều lần. Do anh L không có công ăn việc làm nên vợ chồng thường xảy ra cãi vã, mâu thuẫn. Khi vợ chồng có mâu thuẫn anh L xúc phạm đến chị, gia đình chị. Do vậy cuộc sống vợ chồng thường căngthẳng, không tìm được tiếng nói chung. Chị cũng đã nhiều lần khuyên bảo để anh thay đổi nhưng chỉ được một thời gian ngắn thì anh lại tiếp tục chơi lô đề ,cờ bạc, không có trách nhiệm với gia đình, với vợ. Vì cuộc sống chung không có hạnh phúc nên chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị ở xã B, Sông Công ở từ tháng 2/2017 đến nay. Quá trình ly thân vợ chồng không quan tâm đến cuộc sống của. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh L để sớm ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung.

Tài sản chung, các khoản nợ chung, cho vay chung: Không có.

Bị đơn anh Nguyễn Thành L vắng mặt tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập đến tham gia tố tụng tại phiên tòa. Do anh L không có nhà, ông nội anh L (ông Ngô Minh U) đã nhận trực tiếp các văn bản trên và cam đoan giao tận tay anh L, tuy nhiên đến nay anh L vẫn không đến Tòa án để giải quyết ly hôn.

Tại Biên bản xác minh ngày 22/10/2018 giữa Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên và Công an xã T, ông Trần Quốc H, công an viên xóm T, ông Trần Duy K - Trưởng xóm T đã cung cấp như sau: Tại địa phương, hiện anh L đang chung sống cùng ông nội là ông Nguyễn Minh U và bố đẻ là ông Nguyễn Tuấn A nhưng ông A thường xuyên đi làm, không có nhà, chỉ có ông U thường xuyên ở nhà. Theo hồ sơ quản lý nhân khẩu hiện đang lưu giữ tại Công an xã T thể hiện anh L vẫn có đăng ký nhân khẩu thường trú tại địa chỉ trên, chưa cắt khẩu chuyển đi nơi khác.

Năm 2015, anh L xây dựng gia đình với Nguyễn Thị Diệu H có địa chỉ tại xã B, TP Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi kết hôn, chị H chuyển về địa phương sinh sống cùng gia đình anh L nhưng chưa cắt khẩu nhập về xóm T, xã T. Về mâu thuẫn giữa anh chị, chính quyền địa phương không nắm được do anh chị không có đơn trình báo, không yêu cầu chính quyền cơ sở xóm hòa giải. Tuy nhiên, qua nắm bắt tin tức tại địa phương được biết, anh L có ham chơi lô đề, cờ bạc. Gia đình đã phải trả nợ cho anh L nhiều lần. Thực tế, chị H, anh L đã ly thân khoảng gần 2 năm. Quá trình giải quyết vụ án ly hôn, chính quyền địa phương đã phối hợp cùng Tòa án đến gia đình anh L nhiều lần để giao các văn bản tố tụng cho anh L, tuy nhiên anh L không có nhà. Do vậy nếu anh L cố tình không có mặt thì đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh L, đảm bảo quyền lợi cho chị H.

Tại Biên bản xác minh ngày 22/10/2018 giữa Tòa án và gia đình anh L. Ông Nguyễn Minh U, là ông nội của anh L trình bày: anh L, chị H kết hôn tháng 1/2015, anh có đăng ký kết hôn tại UBND B, TP Sông Công, tỉnh Thái Nguyên (quê chị H). Sau khi cưới, chị H về gia đình ông làm dâu, chung sống cùng gia đình. Quá trình chung sống giữa vợ chồng cũng phát sinh những mâu thuẫn nhỏ do anh chị còn trẻ tuổi, nhận thức chưa được chín chắn. Anh chị chung cùng gia đình khoảng 2 năm thì thuê nhà ở để tiện công việc của chị H. Sau khi ra ở giêng, giữa anh chị có mâu thuẫn như thế nào, gia đình không nắm được. Anh L có ham chơi lô đề, cờ bạc và gia đình cũng đã phải trả nợ cho anh L nhiều lần. Anh chị đã ly thân, không chung sống khoảng hơn 1 năm nay. Chị H về nhà bố mẹ đẻ ở, còn anh L ở chung cùng gia đình ông. Từ khi vợ chồng ly thân, chị H cũng không quay về nhà ông.

Ông U xác nhận anh L hiện đi làm ở Đ, hàng tuần, hàng tháng và khi nhà có công việc thì anh L mới về còn địa chỉ cụ thể ông không biết. Ông đã giao những văn bản tố tụng của Tòa án cho anh L. Quan điểm của gia đình việc tình cảm của anh chị thì để anh chị tự quyết định. Nếu anh L không có mặt tại Tòa án thì đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh L theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án được nguyên đơn thực hiện đúng trình tự, theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa chấp hành theo giấy báo của Tòa án.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, 56, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận đơn ly hôn của chị Nguyễn Thị Diệu H cho chị Nguyễn Thị Diệu H được ly hôn với anh Nguyễn Thành L;

Con chung: không có con chung.

Tài sản chung, các khoản cho vay chung: không có.

Về án phí: căn cứ điều 27 Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBNVQH14, nguyên đơn chị H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, sau khi nghe quan điểm của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diệu H khởi kiện xin ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Thành L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm T, xã T, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự xác định đây là Tranh chấp về hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên.

[2]. Về thủ tục thụ lý đơn khởi kiện: Ngày 13 tháng 6 năm 2017 chị Hương có đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, ngày 06/7/2017, chị H có đơn đề nghị tạm dừng việc thụ lý, ngày 18/6/2018, chị H có đơn đề nghị tiếp tục thụ lý giải quyết. Cùng ngày Tòa án đã ra thông báo sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện và chị H đã thực hiện sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Tòa án, nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định. Tòa án đã tiến hành thụ lý đơn khởi kiện xin ly hôn của chị H đối với anh L, đảm bảo theo quy định tại khoản 3 Điều 191của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Về sự vắng mặt của bị đơn, anh Nguyễn Thành L: tại phiên tòa hôm nay anh L vắng mặt không có lý do (lần thứ 2). Trong quá trình giải quyết vụ án, anh L đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp về việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên tòa, quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng hợp lệ khác theo đúng quy định tại khoản 5 Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng anh L không tham gia tố tụng. Vì vậy HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh L theo quy định pháp luật.

[4]. Về nội dung: Chị Nguyễn Thị Diệu H và anh Nguyễn Thành L tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 23/01/2015 tại UBND xã B, TP Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Sau khi kết hôn, chị H về nhà anh L làm dâu, chung sống cùng gia đình nhà chồng khoảng 2 năm thì vợ chồng ở giêng. Quán trình chung sống, anh chị thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn, chị H cho rằng do anh L không tu chí làm ăn, chơi lô đề, cờ bạc dẫn đến nợ nần, mặt khác vợ chồng chung sống một thời gian nhưng chưa có con nên anh L không có trách nhiệm với gia đình. Do cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc nên chị đã về bố mẹ đẻ ở từ tháng 7/2016 đến nay.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị được ly hôn với anh L. Anh L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có mặt, gây khó khăn trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Tại các biên bản xác minh của Tòa án với chính quyền địa phương và gia đình anh L xác định được bản thân anh L ham chơi lô đề, cờ bạc dẫn đến việc nợ nần và gia đình cũng đã trả nợ cho anh L nhiều lần. Vợ chồng đã ly thân thời gian dài, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau.

Từ những nhận định trên xác định mâu thuẫn giữa chị H và anh L thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, hôn nhân trên thực tế không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần giải quyết cho chị H được ly hôn anh L là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

[5]. Về con chung: Trong quá trình chung sống anh chị không có con chung

[6]. Về tài sản chung, các khoản nợ chung, cho vay chung: Không có.

[7]. Án phí: Chị H chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 271, 273, Bộ luật tố tụng Dân sự 2015; Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Diệu H với anh Nguyễn Thành L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Diệu H được ly hôn anh Nguyễn Thành L.

2. Về con chung: không có.

3. Về Tài sản chung, các khoản nợ chung, cho vay chung: Không có

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Diệu H phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước, được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng phí đã nộp Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phổ Yên, tại biên lai số 0008622 ngày 18/6/2018.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt chị H, vắng mặt anh L. Chị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.


65
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 43/2018/HNGĐ-ST ngày 15/11/2018 về ly hôn

Số hiệu:43/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phổ Yên - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:15/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về