Bản án 43/2017/HNGĐ-ST ngày 28/09/2017 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 43/2017/HNGĐ-ST NGÀY 28/09/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 28 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:119/2017/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2017 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:40/2017/QĐXX-ST ngày 11 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Võ Thị Cẩm N, sinh năm 1995. Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang

2. Bị đơn: Trần Văn T, sinh năm 1993. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnhTiền Giang. (Tại phiên tòa có mặt chị N, vắng mặt anh T)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Võ Thị Cẩm N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn T sống chung với nhau năm 2016, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 12/10/2016. Sau khi cưới một tháng thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh T không lo làm ăn, mặc dù chị đã nhiều lần khuyên nhưng anh T không thay đổi, anh T hoàn toàn không quan tâm đến ý kiến của chị. Chị và anh T đã không còn sống chung từ tháng 7/2017 đến nay.

Chị nhận thấy chị và anh T không còn tình cảm vợ chồng nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Trần Văn T.

Về con chung: Chị và anh T không có con chung

Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh T không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

* Đối với bị đơn anh Trần Văn T, trong quá trình giải quyết vụ án cho đến khi mở phiên tòa, Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn, gửi bản sao đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ anh Trần Văn T nhiều lần nhưng anh T vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến.

* Tại phiên tòa nguyên đơn chị Võ Thị Cẩm N vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Trần Văn T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ lời trình bày của đương sự, các tài liệu chứng cứ được đưa ra xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Võ Thị Cẩm N tranh chấp yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Trần Văn T có nơi cư trú tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

 [2] Về thủ tục tố tụng: Xét bị đơn anh Trần Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

 [3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Cẩm N và anh Trần Văn T sống chung có đăng ký kết hôn năm 2016, được pháp luật công nhận là vợ chồng. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do anh T không lo làm ăn, không quan tâm lo lắng cho gia đình, không quan tâm đến ý kiến của chị nên vợ chồng thường xuyên cự cải. Chị nhận thấy chị và anh T không thể tiếp tục chung sống nên đến tháng 7/2017 chị đã về sống với cha, mẹ ruột và chấm dứt quan hệ hôn nhân với anh T. Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị N khi mới phát sinh không lớn nhưng anh, chị đã không có giải pháp giải quyết mâu thuẫn làm cho mâu thuẫn kéo dài dẫn đến việc vợ chồng không còn sống chung nhiều tháng nay. Quá trình ly thân anh T hoàn toàn không liên hệ hay quan tâm gì đến cuộc sống của chị. Tòa án đã tổ chức hòa giải đoàn tụ nhưng anh T không đến tham gia hòagiải. Điều đó chứng tỏ tình cảm giữa chị N và anh T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị Cẩm N.

 [4] Về con chung: Chị Võ Thị Cẩm N và anh Trần Văn T không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét việc nuôi con.

 [5] Về tài sản chung, nợ chung: Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

 [6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Võ Thị Cẩm N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Cẩm N được ly hôn với anh TrầnVăn T

2. Về con chung: Không xem xét.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

4. Về án phí sơ thẩm: Chị Võ Thị Cẩm N phải chịu 300.000đồng án phí sơthẩm được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí chị Võ Thị Cẩm N đã nộp theo biên lai thu số 18721 ngày 03/7/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang. Chị N đã nộp xong án phí.

5. Về quyền kháng cáo:

Chị Võ Thị Cẩm N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.Anh Trần Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30Luật Thi hành án dân sự.


72
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 43/2017/HNGĐ-ST ngày 28/09/2017 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:43/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:28/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về