Bản án 43/2017/HNGĐ-ST ngày 16/06/2017 về tranh chấp ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 43/2017/HNGĐ-ST NGÀY 16/06/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 16 tháng 6 năm 2017 tại Toà án nhân dân huyện Minh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 21/2017/TLST - HNGĐ ngày 13/3/2017 về việc “ Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2017/QĐXX- ST ngày 18/5/2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đinh Thị D

Trú tại: Thôn T, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình. Có mặt

2. Bị đơn: Anh Cao Tiến D

Trú tại: Thôn T, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn ngày 13/3/2017 và bản tự khai ngày 31/3/2017 của nguyên đơn Đinh Thị D trình bày giữa chị và anh Cao Tiến D đã đăng ký kết hôn ngày 24/02/2014 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Thời gian đầu hai vợ chồng sống hạnh phúc thương yêu nhau để xây dựng gia đình và đã có với nhau một người con chung. Thời gian chung sống sau đó hai vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau gây mất đoàn kết gia đình, chị và anh D đã sống ly thân, hiện nay tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy chị D làm đơn ly hôn xin toà án giải quyết việc ly hôn cho chị.

Con chung của vợ chồng: Hai vợ chồng có 01 đứa con chung là Cao Thị Bảo N– sinh ngày 08/01/2014. Ý kiến của chị D là sau khi ly hôn nếu Tòa án phân xử cho chị hoặc anh D nuôi cháu N thì người đó có trách nhiệm nuôi dưỡng con chung.

Tài sản chung và khoản vay chung: Không có

Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa đã thụ lý vụ án theo yêu cầu của chị D. Tiến hành triệu tập lấy lời khai, triệu tập và thông báo phiên hòa giải nhiều lần nhưng chỉ có mặt chị D còn anh D vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa hôm nay anh D vẫn vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Chị Đinh Thị D và anh Cao Tiến D đã đăng ký kết hôn ngày 24/02/2014 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không có ai ép buộc nên coi đây là cuộc hôn nhân hợp pháp nhưng do anh chị không thông cảm cho nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sống mà hai bên không khắc phục được dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Xét thấy nguyện vọng của chị D xin được ly hôn là chính đáng cần chấp nhận, áp dụng Khoản 1, Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Đinh Thị D được ly hôn với anh Cao Tiến D.

Về con chung: Áp dụng Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình xử giao chị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Cao Thị Bảo N – sinh ngày 08/01/2014. Xử buộc anh Cao Tiến D đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con một tháng là 500.000 đồng cho đến khi cháu N tròn 18 tuổi.

Tài sản chung và khoản vay chung: Không có nên miễn xét.

Án phí: Chị Đinh Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị D đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0000208 ngày 13/3/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện MinhHóa. Chị D đã nộp đủ án phí.

Anh Cao Tiến D phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đinh Thị D được ly hôn với anh Cao Tiến D.

2. Về con chung: Xử giao giao chị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Cao Thị Bảo N – sinh ngày 08/01/2014. Xử buộc anh Cao Tiến D đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con một tháng là 500.000 đồng cho đến khi cháu N tròn 18 tuổi. Không ai được ngăn cản việc đi lại chăm sóc con chung, khi cần thiết vì quyền lợi của con một trong hai bên có quyền làm đơn yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí: Đinh Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị D đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0000208 ngày 13/3/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa. Chị D đã nộp đủ án phí.

Anh Cao Tiến D phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trường hợp bên phải thi hành án do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán quy định tại Khoản 2 Điều 357 bộ luật Dân sự mà không có thỏa thuận lãi suất thì thựctheo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự được xác định mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất quá hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự để trả cho bên được thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Tuyên bố nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ( 16/6/2017), bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại UBND xã H để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.


72
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 43/2017/HNGĐ-ST ngày 16/06/2017 về tranh chấp ly hôn

    Số hiệu:43/2017/HNGĐ-ST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Minh Hóa - Quảng Bình
    Lĩnh vực:Dân sự
    Ngày ban hành:16/06/2017
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về