Bản án 42/2020/HS-ST ngày 29/10/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI

BẢN ÁN 42/2020/HS-ST NGÀY 29/10/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 29 tháng 10 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2020/TLST - HS ngày 08 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2020/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:

Hoàng Văn H, tên gọi khác: Không. Sinh ngày 02 tháng 8 năm 1995 tại thị xã Ngh, tỉnh Y. Nơi cư trú: Thôn N, xã Ngh, thị xã Ngh, tỉnh Y. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn T, sinh năm 1971 và bà Hoàng Thị M, sinh năm 1971; Vợ con; Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 29/7/2020, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Yên Bái. Có mặt.

Bị hại: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1986. Địa chỉ: Bản Kh, xã Th, thị xã Ngh, tỉnh Y. Vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Chị Hoàng Thị M, sinh năm 1971. Địa chỉ: Thôn N, xã Ngh, thị xã Ngh, tỉnh Y. Có mặt.

- Anh Vũ Anh T2, sinh năm 1985. Địa chỉ: Tổ 06, phường Tr, thị xã Ngh, tỉnh Y. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 28/7/2020, Hoàng Văn H điều khiển xe mô tô BKS 21L1-00551 của mẹ đẻ là Hoàng Thị M đến nhà của Nguyễn Văn T1, tại bản Kh, xã Th, thị xã Nghĩa Lộ để rủ T đi làm. Sau đó H trở T1 đi đến trung tâm thị xã Nghĩa Lộ bán chiếc lắc bạc của H được 40.000 đồng, cắm chiếc điện thoại di động hiệu VSMART của chị M tại cửa hàng điện thoại di động “ Ng H” được 200.000 đồng. Sau khi có tiền cả hai đi mua xăng và thức ăn về nấu cơm ăn và ngủ trưa tại nhà T1. Khoảng 12 giờ 30 phút, khi T1 vẫn đang ngủ thì H dậy và quan sát thấy trong phòng ngủ của T1 có 01 chiếc tivi nhãn hiệu SAMSUNG, 43inch, mầu đen nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt. H bê chiếc tivi ra ngoài bằng cửa phụ rồi cho lên xe mô tô và đem đến cửa hàng mua bán, sửa chữa điện tử “T Ng” bán cho anh Vũ Anh T2 với giá 2.300.000 đồng. Sau đó Hành đến quán “Ng H” chuộc lại chiếc điện thoại di động VSMART của mẹ và 01 chiếc điện thoại di động OPPO mà H đã cắm từ trước hết 730.000 đồng, H mua thêm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S với giá 1.400.000 đồng, 01 ốp điện thoại với giá 50.000 đồng. Sau khi mua xong H điều khiển xe về nhà T1 thì bị công an xã Thanh Lương gọi lên làm việc, tại cơ quan điều tra H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp số tiền còn lại là 230.000 đồng.

Vật chứng, tài sản thu giữ được: 01 chiếc tivi nhãn hiệu Samsung 43inch, mầu đen;

01 chiếc xe mô tô BKS 21L1-00551; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo mầu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S; 01 ốp điện thoại di động và 230.000 đồng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 16/KL – HĐĐGTS ngày 29/7/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái đã kết luận: Giá trị thực tế của tài sản cần định giá là 4.830.000 đồng (Bốn triệu tám trăm ba mươi ngàn đồng).

Cáo trạng số: 42/CT-VKS-NL ngày 08 tháng 10 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ đã truy tố Hoàng Văn H về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản. Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm h, i, s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền bị cáo đã chi tiêu nên không giải quyết.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho anh Vũ Anh Tuấn 01 điện thoại di động OPPO A3S đã cũ và 01 ốp điện thoại, tịch thu sung quỹ 230.000 đồng, trả lại cho bị cáo 01 điện thoại OPPO mầu đen đã cũ.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản đúng như Cáo trạng đã truy tố, không tranh luận với Kiểm sát viên về tội danh, điều luật và mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị. Lời nói sau cùng bị cáo đã nhận ra hành vi của mình là sai nên xin được giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại Nguyễn Văn T1 vắng mặt tại phiên tòa đã được Hội đồng xét xử công bố lời khai trong hồ sơ phù hợp với nội dung của vụ án, bị hại không có yêu cầu đề nghị gì đối với bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Vũ Anh T2 đề nghị được xin lại chiếc điện thoại di động Oppo A3s cùng phụ kiện là ốp điện thoại mà bị cáo đã sử dụng tiền bán ti vi để mua, ngoài ra không yêu cầu gì thêm, bị cáo thống nhất với ý kiến đó của anh T2. Chị Hoàng Thị M đã nhận lại được tài sản là chiếc xe mô tô và điện thoại di động hiệu Vsmart nên không có đề nghị gì với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố. Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thị xã Nghĩa Lộ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện hợp pháp.

[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi liên quan và những lời khai khác của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với vật chứng, tài sản được thu giữ và những tài liệu khác trong vụ án. Đã chứng minh được vào trưa ngày 28/6/2020 Hoàng Văn H đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu để lén lút chiếm đoạt 01 chiếc ti vi nhãn hiệu Samsung 43inch, mầu đen đã qua sử dụng có trị giá 4.830.000 đồng (Bốn triệu tám trăm ba mươi ngàn đồng) của anh Nguyễn Văn T1 ở bản Kh H, xã Th L, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, quyền được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là thanh niên có sức khỏe, đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, biết được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý nghiêm minh nhưng chỉ vì nhu cầu tiêu sài của cá nhân đã cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh T1. Hành vi đó của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự đúng như bản Cáo trạng của VKS nhân dân thị xã Nghĩa Lộ đã truy tố đối với bị cáo.

[3] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn cho bị hại, lần phạm tội này là lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự được Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo.

Bị cáo là người không có tiền án, tiền sự nhưng lại nghiện chất ma túy nên được xác định là người có nhân thân chưa tốt.

[4] Đối chiếu với những quy định của pháp luật hình sự, trên cơ sở đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng hình phạt tù phù hợp với tính chất nguy hiểm của tội phạm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, phòng ngừa tội phạm trong giai đoạn hiện nay.

Theo quy định của Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị xử phạt tiền nhưng xét thấy bị cáo là người không có tài sản riêng, vẫn phải sống cùng với gia đình và nghiện ma túy trong nhiều năm nên ảnh hưởng đến kinh tế gia đình, vì vậy nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng và tài sản tạm giữ:

- 01 chiếc tivi hiệu Samsung 43inch, mầu đen đã qua sử dụng, cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại Nguyễn Văn T1 quản lý sử dụng là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.

- 01 chiếc xe mô tô BKS 21L1 – 00551 và 01 điện thoại di động hiệu Vsmart đã được cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu là chị Hoàng Thị M quản lý là phù hợp với quy định pháp luật.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo đã cũ, 01 ốp điện thoại bằng nhựa và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo (A3S) và 230.000đồng đây là những tài sản bị cáo mua, chuộc lại từ tiền bán ti vi mà có. Tại phiên tòa bị cáo và anh Vũ Anh T2 thống nhất được với nhau về việc bồi thường thiệt hại là chiếc điện thoại Oppo A3S cùng ốp điện thoại sẽ trả cho anh T2 quản lý, sử dụng, ngoài ra anh T2 không yêu cầu gì thêm, sự thỏa thuận đó là phù hợp với quy định của pháp luật (Điều 585 Bộ luật dân sự ) nên được Hội đồng xét xử ghi nhận. 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo đã cũ, mầu đen cần được trả lại cho bị cáo. 01 vỏ phong bì thư đã mở niêm phong không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Số tiền 230.000đồng cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất nên không yêu cầu bị cáo bồi thường; người có quyền lợi liên quan anh T2 đã thống nhất được với bị cáo việc nhận lại 01 chiếc điện thoại Oppo A3S cùng ốp điện thoại, ngoài ra không yêu cầu bồi thường gì thêm, chị M đã nhận lại tài sản là chiếc xe mô tô và điện thoại di động Vsmart, không đề nghị gì đối với bị cáo. Vì vậy nên Hội đồng xét xử không xem xét về phần dân sự.

Trong vụ án này anh Vũ Anh T2 đã mua chiếc Ti vi nhưng anh T2 không biết được do bị cáo trộm cắp mà có, vì vậy anh T2 không phạm tội.

[7] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Những đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt cũng như các vấn đề cần giải quyết trong vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản.

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 29/7/2020.

2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 230.000đồng. Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ phong bì thư đã mở niêm phong.

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động mầu đen, mặt trước bị vỡ mặt sau có chữ Oppo đã cũ, đã qua sử dụng.

- Trả cho anh Vũ Anh T2 01 điện thoại di động mầu đen mặt sau có chữ Oppo (A3S) đã cũ, đã qua sử dụng và 01 ốp điện thoại bằng nhựa mầu trắng.

( Theo biên bản giao, nhận vật chứng,tài sản tạm giữ lập ngày 09/10/2020 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái và cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái).

3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hoàng Văn H phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo phần bản án trực tiếp liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


1
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 42/2020/HS-ST ngày 29/10/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:42/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Nghĩa Lộ - Yên Bái
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:29/10/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về