Bản án 42/2020/HS-ST ngày 07/05/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

BẢN ÁN 42/2020/HS-ST NGÀY 07/05/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 07 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 39/2020/HSST ngày 06 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Dương Văn D, tên gọi khác: Không, sinh năm 1991 tại Đồng Nai. Nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú: Ấp P, xã S, thị trấn P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Chỗ ở: Như trên; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Châu Ro; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; cha là ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1969, Mẹ là bà Dương Thị Đ, sinh năm 1970; Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình; Vợ bị cáo là Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1995,bị cáo có 02 con, con nhỏ nhất sinh năm 2015.

Tiền án: 01-Ngày 13/3/2013 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xử phạt 24 tháng tù có thời hạn về tội: “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 09/2013/HSST ngày 13/3/2013 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu).

Tiền sự: Không Nhân thân: Ngày 27/01/2015, bị cáo bị TAND thị xã Phú Mỹ (trước đây là huyện Tân T) xử phạt 18 tháng tù có thời hạn về tội: “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 08/2015/HSST ngày 27/01/2015).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 04/12/2019, bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 07/12/2019 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thị xã Phú Mỹ.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1993, địa chỉ: Ấp T, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô T, sinh năm: 1955. Địa chỉ: Tổ 8, ấp S, xã S, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu(vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 23/3/2018 Trần Anh T, sinh năm 1993, nơi cư trú: Ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu một mình điều khiển xe mô tô hiệu Sirius (không rõ biển số mượn của Đỗ T) đến nhà của Dương Văn D chơi. Khi đi đến đoạn đường khu vực tổ 2, ấp Sông Xoài 2, xã Sông Xoài, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, nhìn thấy ông Nguyễn Văn T sinh năm 1993, nơi cư trú: Ấp T, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu say rượu nằm ngủ ở lề đường, bên cạnh dựng chiếc xe mô tô hiệu Winner, BKS: 72F1 - 555.06 nên đã nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe mô tô trên. T liền gọi điện thoại cho Dương Văn D nói T bị ngã xe và nhờ D đến giúp. Nghe vậy, D nhờ Phạm V, sinh năm 1990, nơi cư trú: Ấp P, xã S, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu chở đến chỗ T. Khi gặp nhau, T nói V đi về trước, còn D ở lại thì T rủ D lấy trộm chiếc xe ông T, D đồng ý. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, T và D quay lại chỗ ông T đang nằm. Tại đây, T và D gặp ông Dương Văn L, sinh năm 1998, nơi cư trú: Ấp P, xã S, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đang đỡ ông T dậy. T liền đến nói với ông L đây là bạn của T, để T đưa về, nghe vậy ông L đồng ý và đi về trước. T nói D điều khiển xe máy của T chạy theo ông Luân để tránh bị nghi ngờ, còn T chở anh T đi về hướng huyện Châu Đức. Điều khiển xe chở ông T được một đoạn, thấy ông T say, ngồi không vững nên T dừng xe lại, lúc này ông T dậy nói để tự mình điều khiển xe nên T đưa xe cho ông T. Ông T điều khiển xe đi được một đoạn, do say quá nên đã vứt xe bên đường rồi đi vào chòi lá của ông Ngô Trúc, sinh năm 1955, nơi cư trú: Tổ 8, ấp Sông Xoài 2, xã Sông Xoài, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nằm ngủ. T đi đến lấy chiếc xe mô tô hiệu Winner BKS: 72F1 - 555.06 điều khiển đến vòng xoay xã Hắc Dịch, thị xã Phú Mỹ và gọi điện thoại cho D đến. Sau đó, T và D điều khiển chiếc xe nêu trên đến xã Châu Pha, thị xã Phú Mỹ thông qua C (chưa rõ nhân thân lai lịch) bán chiếc xe trên cho M (chưa rõ nhân thân lai lịch) được số tiền 9.000.000 đồng. M trả trước cho T số tiền 7.500.000 đồng. Số tiền trên, T chia cho D số tiền 1.000.000 đồng, số tiền còn lại T mua ma túy cùng D sử dụng chung và tiêu xài cá nhân hết. Quá trình điều tra, Dương Văn D đã bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Mỹ đã ban hành Quyết định truy nã bị cáo, đến ngày 04/12/2019 mới bắt được bị cáo. Ngày 05/12/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Mỹ đã ban hành Quyết định đình nã và phục hồi điều tra đối Dương Văn D. Riêng Trần Anh T đã đã được Cơ quan cảnh sát điều tra đã Quyết định tách vụ án và đã xét xử xong. .

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 65/KL ngày 24/5/2018 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự UBND thị xã Phú Mỹ (trước đây là huyện Tân thành) kết luận: Chiếc xe mô tô hiệu Winner, BKS: 72F1 - 555.06 trị giá 44.100.000đ (bốn mươi bốn triệu, một trăm nghìn đồng). Tại cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Phú Mỹ, bị cáo Dương Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp xe máy cùng với Trần Anh T như đã nêu trên Về vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô hiệu Winner, BKS: 72F1 - 555.06 cơ quan cảnh sát điều tra không thu hồi được.

Đối với đối tượng tên M người đã mua chiếc xe mô tô hiệu Winner, BKS: 72F1 - 555.06 của T và D chưa xác minh được nhân thân, lai lịch. Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Phú Mỹ tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn T yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 19.100.000đ (Mười chín triệu một trăm nghìn đồng).

Tại bản Cáo trạng số:47/CT- VKS ngày 04/03/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố Dương Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự Tại phiên tòa hôm nay:

- Bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai của mình tại cơ quan điều tra và khai nhận toàn bộ hành vi trái pháp luật của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và phát biểu luận tội, phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, hậu quả do bị cáo gây ra, cũng như đặc điểm nhân thân của bị cáo. Đề nghị, Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h, khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo D từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Không

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo tự nguyện bồi thường cho ông Nguyễn Văn T số tiền 19.100.000 (Mười chín triệu một trăm nghìn đồng)

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Về tố tụng:

Qua xem xét toàn bộ hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan điều tra, viện kiểm sát đã tuân thủ nghiêm thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định tại các điều 88, 98, 105 Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra không có bức cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

2. Về tội D và điều luật áp dụng: Lời khai nhận tội tại phiên tòa của bị cáo D phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và lời khai của bị hại cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 23 giờ ngày 23/3/2018 tại ấp Sông Xoài 2, xã Sông Xoài, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Dương Văn D đã có hành vi cùng với Trần Anh T lấy trộm chiếc xe mô tô hiệu Winner, BKS: 72F1 - 555.06 trị giá 44.100.000 đồng của ông Nguyễn Văn T.

Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng T, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật, bị cáo là người có nhân thân xấu, có 01 tiền án chưa được xóa án tích, tuy nhiên do nghiện ma túy, muốn có tiền để sử dụng ma túy nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội đến cùng.vì thế,với tính chất, mức độ phạm tội như trên cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội bằng hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục bị cáo, giúp bị cáo nhận ra lỗi lầm của mình đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tỏ thái độ ăn năn, hối cải, T khẩn khai báo, bị cáo là người dân tộc, trình độ văn hóa thấp. Do vậy bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[5]Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại Nguyễn Văn T số tiền 19.100.000 ( Mười chín triệu một trăm nghìn đồng)

[7] Về xử lý vật chứng: Không

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

 Tuyên bố bị cáo Dương Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h, khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự Xử phạt bị cáo Dương Văn D 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/12/2019.

2.Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị hại Nguyễn Văn T số tiền 19.100.000đ ( Mười chín triệu một trăm nghìn đồng)

3.Về vật chứng: Không

4.Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Dương Văn D phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Dương Văn D phải nộp 955.000đ ( Chín trăm năm mươi lăm nghìn đồng)

6. Về quyền kháng cáo: trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị cáo, bị hại, đương sự có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.


19
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 42/2020/HS-ST ngày 07/05/2020 về tội trộm cắp tài sản

      Số hiệu:42/2020/HS-ST
      Cấp xét xử:Sơ thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Phú Mỹ - Bà Rịa - Vũng Tàu
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:07/05/2020
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về