Bản án 42/2019/HS-ST ngày 22/01/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 42/2019/HS-ST NGÀY 22/01/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 22 tháng 01 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 534/2018/TLST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 530/2018/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo:

Tăng Thi H, sinh năm 1986 (Bị cáo có mặt)

Nơi cư trú: Khóm Cà Săng, phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tăng K, sinh năm 1962 và bà Tăng Thị S, sinh năm 1962; Bị cáo chưa có vợ con;

Tiền án:

Ngày 23/01/2013, bị Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án số 06/2013/HSST ngày 23/01/2013. (chưa được xóa án tích) Tiền sự: Không Nhân thân:

- Năm 2015, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 01 (một) năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 24/2015/HSST ngày 25/9/2015.

Bị bắt khẩn cấp ngày 10/9/2018, chuyển tạm giam theo lệnh số 464/LTG ngày 19/9/2018 của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an thành phố Biên Hòa. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Biên Hòa.

- Bị hại:

1/ Bà Vũ Thị P – sinh năm 1968. Địa chỉ: 63A/7, khu phố 2, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)

2/ Chị Vũ Thị Tú Q, sinh năm 1986. Địa chỉ: 1/9, khu phố 2, phường Hố Nai, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 14 giờ ngày 09/9/2018, Tăng Thi H điều khiển xe máy biển số 83P3-529.62 đi mua đồ tại cửa hàng tạp hóa địa chỉ tại 63A/7, khu phố 2, phường T, thành phố B do chị Vũ Thị Tú Q làm chủ. Khi vào trong tiệm không thấy có người trông coi, trên kệ tivi có một điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, 64Gb (của chị Q) và một chiếc điện thoại hiệu Iphone 5, 16Gb (của bà Vũ Thị P, mẹ chị Q) đang sạc pin nên H nảy sinh ý định trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. H lấy hai chiếc điện thoại trên bỏ vào túi quần rồi đi ra ngoài thì bị chị Q phát hiện tri hô và đuổi theo H nhưng không kịp. Chị Q đã mượn chiếc điện thoại của em gái là Vũ Thị Tú Quyên mở hệ thống định vị Icloud trên chiếc điện thoại bị mất và xác định được vị trí máy hoạt động tại số nhà 7/10, khu phố 2, phường Tân Mai, thành phố Biên Hòa nên đã báo công an phường Tân Mai. Qua kiểm tra phòng trọ số 01 thuộc dãy nhà số 7/10, khu phố 2, phường Tân Mai, thành phố Biên Hòa, Công an phường Tân Mai phát hiện Tăng Thi H đang cất giữ hai chiếc điện thoại trộm cắp tại cửa hàng tạp hóa của chị Q nên đã bắt giữ H giao cho Công an phường Tam Hiệp lập hồ sơ chuyển H cùng tang vật cho Công an thành phố Biên Hòa điều tra xử lý.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Vt chứng thu giữ:

- 01 điện thoại thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, 64Gb, số Imei 35671 40869 80444 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5, 16Gb, số Imei 35835 60616 83680 đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa thu hồi trả cho bị hại là chị Vũ Thị Tú Q và bà Vũ Thị P.

- 01 chiếc bóp vải màu trắng, bên trong có 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe mang tên Phạm Thị Thanh Vân thu giữ tại phòng trọ của Tăng Thi H. Trong quá trình điều tra xác định là do chị Vân đánh rơi và H nhặt được nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Vân.

- 01 máy ảnh hiệu Fujifilm màu đỏ hồng; 01 máy ảnh hiệu Canon màu bạc; 01 điện thoại di động hiệu Masstel là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo Tăng Thi H.

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, biển số 83P3- 529.62 là phương tiện bị cáo Tăng Thi H dùng để phạm tội.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 292/TCKH-HĐĐG ngày 14/9/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố Biên Hòa kết luận: “01 điện thoại thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, 64Gb, số Imei 35671 40869 80444 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5, 16Gb, số Imei35835 60616 83680 có tổng giá trị định giá là 18.783.000 đồng” Về trách nhiệm dân sự: Bà Vũ Thị P và chị Vũ Thị Tú Q đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bồi thường.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại đối với Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản thành phố Biên Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa không có ý kiến đối với Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản thành phố Biên Hòa.

Bản cáo trạng số: 07/CT-VKSBH ngày 13/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Tăng Thi H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Tăng Thi H từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù. Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Trả lại cho bị cáo 01 máy ảnh hiệu Fujifilm màu đỏ hồng; 01 máy ảnh hiệu Canon màu bạc; 01 điện thoại di động hiệu Masstel là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo Tăng Thi H không liên quan đến việc phạm tội; Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xa Wave Alpha, biển số 83P3-529.62 là phương tiện bị cáo Tăng Thi H dùng để phạm tội.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết lỗi của bị cáo. Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, với lời khai của người bị hại, các chứng cứ khác có tại hồ sơ và cáo trạng mô tả. Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 09/9/2018, tại cửa hàng tạp hóa địa chỉ số 63A/7, khu phố 2, phường T, thành phố B, Tăng Thi H đã có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8Plus, 64Gb của chị Vũ Thị Tú Q và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5 16Gb của bà Vũ Thị P có tổng giá trị tài sản là 18.783.000đ thì bị phát hiện điều tra xử lý. Hành vi trên đây của bị cáo Tăng Thi H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như cáo trạng đã truy tố là có căn cứ.

Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

đ) Tài sản là di vật, cổ vật.”

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người trong độ tuổi lao động, nhưng không sử dụng sức lao động để tạo ra của cải nuôi sống bản thân một cách chân chính, mà lại thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án chưa được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân nên bị cáo đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Nên cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, theo lời khai của bị cáo tại phiên tòa thì bị cáo bị cáo hiện đang bị bệnh tiểu đường, gia đình hoàn cảnh khó khăn, hiện đang ở trọ.

Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, 64Gb, số Imei 35671 40869 80444 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5, 16Gb, số Imei35835 60616 83680 đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa thu hồi trả cho bị hại là chị Vũ Thị Tú Q và bà Vũ Thị P là phù hợp.

- 01 chiếc bóp vải màu trắng, bên trong có 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe mang tên Phạm Thị Thanh Vân thu giữ tại phòng trọ của Tăng Thi H. Trong quá trình điều tra xác định là do chị Vân đánh rơi và H nhặt được nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Vân là phù hợp.

- 01 máy ảnh hiệu Fujifilm màu đỏ hồng; 01 máy ảnh hiệu Canon màu bạc; 01 điện thoại di động hiệu Masstel là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo Tăng Thi H không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xa Wave Alpha, biển số 83P3-529.62 là phương tiện bị cáo Tăng Thi H dùng để phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bà Vũ Thị Phương và chị Vũ Thị Tú Q đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét.

[7] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Tăng Thi H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Tăng Thi H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/9/2018.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả lại cho bị cáo Tăng Thi H 01 máy ảnh hiệu Fujifilm màu đỏ hồng; 01 máy ảnh hiệu Canon màu bạc; 01 điện thoại di động hiệu Masstel, màu xanh đen số Imei1:357213103651764/Imei2:357213103861777 (theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/12/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, biển số 83P3-529.62, số máy JA39E0502968, số khung RLHJA3905HY527826 (theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/12/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Tăng Thi H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại Vũ Thị P được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, riêng bị hại Vũ Thị Tú Q được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.


90
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 42/2019/HS-ST ngày 22/01/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:42/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 22/01/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về