Bản án 42/2019/HS-ST ngày 13/12/2019 về tội hiếp dâm

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 42/2019/HS-ST NGÀY 13/12/2019 VỀ TỘI HIẾP DÂM

Ngày 13 tháng 12 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 739/2019/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

C V H (Tên gọi khác: Hiếm) sinh ngày: 26 tháng 3 năm 2003 tại: Xã T H, huyện M H, tỉnh Q B. Nơi cư trú: Thôn B M 1, xã T H, huyện M H, tỉnh Q B; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông C N T và bà Đ T H; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/9/2019 đến ngày 24/9/2019 chuyển tạm giam cho đến nay, có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo C V H: bà Đ T H

Địa chỉ: Thôn B M 1, xã T H, huyện M H, tỉnh Q B (Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo C V H: Ông H N L – Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q B. (Có mặt)

- Người bị hại: Chị T T L N (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn T T, xã M H, huyện M H, tỉnh Q B.

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại T T L N: bà T T L (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn T T, xã M H, huyện M H, tỉnh Q B

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại T T L N: Bà N T D L – Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q B. (Có mặt)

- Người làm chứng: Chị T T Th (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn T Th, xã M H, huyện M H, tỉnh Q B

Chị Đ T H Tr (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 3 T L, xã Q H, huyện M H, tỉnh Q B.

Chị T T T (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn T Th, xã M H, huyện M H, tỉnh Q B.

Chị C T H T (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn B M 1, xã T H, huyện M H, tỉnh Q B

Anh Đ S N (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 3 T L, xã Q H, huyện M H, tỉnh Q B

Anh Đ V H (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tiểu khu 8, thị trấn Q Đ, huyện M H, tỉnh Q B.

Anh Đ Q T (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn B M 1, xã T H, huyện M H, tỉnh Q B

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

C V H, sinh ngày 26/3/2003 có quan hệ tình cảm yêu đương với T T L N, sinh ngày 01/01/2002. Khoảng 23 giờ ngày 17/9/2019, do có mâu thuẫn trong chuyện tình cảm nên C V H nhắn tin hẹn gặp T T L N tại quán Cà phê võng H N ở thôn 1 T L, xã Q H, huyện M H, tỉnh Q B. H điều khiển xe mô tô BKS 73C1- 096.., khi đi H kẹp một bên xe súng cồn tự chế và mang theo trong người một 01 con dao bấm đến quán cà phê võng H N đón N. Khi đến quán H gọi N ra ngoài đường rồi chở N đến khu vực “Vực R” – đây là khu vực ráp danh giữa xã M H và xã T H, huyện M H, khu vực này giáp suối và xung quanh không có nhà dân, ít người qua lại. Tại đây H và N đứng nói chuyện, H trách và bực tức N về chuyện nhắn tin cho người con trai khác, nên H đã có hành vi dùng tay trái bóp miệng N, tay phải tát vào mặt N 01 cái, H dùng tay siết cổ và đấm vào bụng N, H còn dùng con dao mang theo sẵn đe dọa giết và rạch mặt N, làm cho N hoảng sợ. Sau đó, H ôm N và nói chuyện bình thường rồi ôm hôn N và nói “Cho eng mần xí em dá” (tức H xin quan hệ tình dục với N), nhưng N không đồng ý và nói “thôi đi”, lúc này H đẩy N dựa mông vào yên xe mô tô, H dùng tay cầm dây quần của N để kéo quần N xuống nhưng bị N giữ lại. H tiếp tục dùng tay của mình kéo tụt quần N xuống rồi nâng chân phải và chân trái của N lên, rồi kéo cả quần ngoài và quần lót của N ra khỏi hai chân. N kéo áo đang mặc để che bộ phận sinh dục nhưng bị H gạt ra. H bế N ngồi lên yên xe, mặt N hướng vào mặt H, H cởi quần của mình xuống đầu gối, rồi cầm lấy dương vật đã cương cứng của H đặt vào âm hộ của N và bắt đầu quan hệ tình dục với N, quan hệ được khoảng 20 phút thì H xuất tinh ra ngoài âm hộ N; 02 phút sau H tiếp tục quan hệ tình dục lần thứ hai với N ở tư thế cũ, sau đó H bế N lên người H và tiếp tục quan hệ tình dục, quan hệ được khoảng 15 phút thì H tiếp tục xuất tinh ra ngoài ; khoảng 02 phút sau H tiếp tục bắt N úp mặt xuống yên xe mô tô và tiếp tục quan hệ tình dục lần thứ 03 với N, quan hệ được khoảng 10 phút thì H xuất tinh ra ngoài. Sau khi quan hệ xong Hùng chở N về nhà Th ở thôn T Th, xã M H, huyện M H còn H đi về nhà. Do không có khóa vào nhà Th nên N đã đi bộ lên nhà bạn Đ T H Tr ở thôn 3 T L, xã Q H, huyện M H, tỉnh Q B và kể lại với Tr việc H đã đánh đập, đe dọa và quan hệ tình dùng với N, sau đó N đã đến cơ quan Công an huyện M H trình báo sự việc vào lúc 03 giờ 10 phút ngày 18/9/2019.

Tại cơ quan điều tra, T T L N khai: do H bóp cổ, đánh, dùng dao đe dọa rạch mặt và đòi giết N, đồng thời khu vực này hoang vắng, đêm khuya không có người qua lại nên khi H thực hiện hành vi quan hệ tình dục N không dám chống cự để bảo đảm an toàn tính mạng cho bản thân.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 98/TgT ngày 18/9/2019 của Trung tâm giám định y khoa – pháp y tỉnh Quảng Bình kết luận: Vùng ngực hai bên của T T L N không có dấu vết tổn thương; Màng trinh đã rách cũ hoàn toàn; Hậu môn không bị tổn thương; trong dịch âm đạo và dịch trực tràng không có tinh trùng; không bị bệnh lây truyền qua đường tình dục; HIV âm tính.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra gia đình bị cáo C V H đã bồi thường cho gia đình bị hại T T L N số tiền: 10.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. Ngoài ra người bị hại T T L N yêu cầu bị cáo bồi thường tổn thất về tinh thần số tiền 20.000.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

- Tạm giữ từ T T L N: 01 (Một) áo phông trắng, sọc đen, áo loại nữ, dài 50cm, rộng 43cm, không có dấu vết gì để lại trên áo, áo cũ đã qua sử dụng; 01 (Một) quần vải màu đen, quần loại nữ, quần lửng, nhãn hiệu: ZARA BASIC FASHION, dài 68cm, lưng quần dài 32cm, ống quần mỗi bên dài 30cm, không thu được dấu vết gì để lại trên quần, quần cũ đã qua sử dụng; 01 (Một) áo ngực màu hồng gạch, không thu được dấu vết gì để lại trên áo ngực, áo ngực cũ đã qua sử dụng; 01 (Một) quần lót nữ , màu gạch, lưng quần dài 30cm, chiều dài khoảng 19cm, quần cũ đã qua sử dụng; 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 5S, màu GOLD, số IMEL: 358809055789954, đã qua sử dụng.

- Tạm giữ từ Đ T H: 01 (Một) xe mô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, biển kiểm soát: 73C1-096.., màu sơn: Đỏ đen, đã qua sử dụng; 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, biển kiểm soát: 73C1-096..; 01 (Một) giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe mô tô biển kiểm soát: 73C1-096..; 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu MASSTEL, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết máy bên trong; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu trắng, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết máy bên trong.

- Tạm giữ từ C T H T: 01 (Một) dụng cụ tự chế bằng nhựa, dạng hình khẩu súng dài 140cm, phần than là bình khí bằng nhựa dài 23cm, đường kính lớn nhất 9cm, cuối bình có nút vặn bằng nhựa, trước bình nối thông được cố định với đoạn ống nhựa hình chữ Z dài 36cm, đường kính ngoài 4cm. Đầu trước đoạn ống nhựa hình chữ Z nối với phần nòng dài 81cm, vỏ là ống nhựa, quấn băng dính màu đen, đường kính 1,2cm, ruột là ống kim loại đường kính 0,8cm. Gắn với phần nòng là bơm hơi dài 47cm, đường kính 3,2cm, vòi bơm làm bằng ống nhựa màu xanh gắn với van nạp của bình khí.

- Tạm giữ từ C V H: 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, màu vàng đồng, kiểu máy: A37+, số IMEL 1: 862646039604696, số IMEL 2: 862646039604688, màn hình điện thoại bị vỡ không rõ hình, điện thoại đã qua sử dụng; 01 (Một) con dao bằng kim loại, có chiều dài 26,2cm, màu đen, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 11,5cm, chỗ rộng nhất 2,3cm, mũi của lưỡi dao nhọn, cán của con dao được làm bằng kim loại, có chiều dài 14,7cm, chỗ rộng nhất 4,7cm, chỗ hẹp nhất 02cm.

- Tạm giữ từ Đ T H Tr: 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, kiểu máy: A3S, màu đen, số IMEL 1: 868125042124392, số IMEL 2: 86968603214384, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết máy bên trong.

- Tạm giữ từ T T Th:: 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, kiểu máy: A83(2018), màu đỏ, số IMEL 1: 869686032147312, số IMEL 2: 869686032147304, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết máy bên trong.

Cáo trạng số 33/CT-VKSNDMH ngày 14/11/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hoá quyết định truy tố bị cáo C V H về tội “Hiếp dâm” theo khoản 4 Điều 141 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố cũng như đề nghị: Áp dụng khoản 4 Điều 141; điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51, điều 54, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo C V H từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Tại phiên tòa người bị hại trình bày: Tôi đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ tội cho bị cáo. Về mặt dân sự bị cáo đã bồi thường thêm cho tôi 20.000.000 đồng về tổn thất tinh thần tại phiên tòa hôm nay tôi không yêu cầu bồi thường thêm gì.

Người đại diện hợp pháp của người bị hại trình bày: Tôi nhất trí như lời khai của con tôi, tôi mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ tội cho bị cáo. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại trình bày: Việc bồi thường như vậy đã thỏa đáng nên tôi không yêu cầu gì thêm. Tôi đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nguyện vọng của người bị hại về đề nghị giảm nhẹ tội cho bị cáo.

- Người bào chữa cho bị cáo C V H trình bày: Trợ giúp viên nhất trí như ý kiến của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 4 Điều 141, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54. Điều 91, Điều 101 cho bị cáo và xem xét mức hình phạt nhẹ nhất, vì bị cáo đang còn nhỏ tuổi để bị cáo có cơ hội về học lại.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo trình bày: Tôi nhất trí như lời khai của C V H. Tôi mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ tội cho bị cáo để bị cáo có cơ hội làm lại từ đầu.

Căn cứ vào kết quả thẩm vấn công khai tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; lời khai của những người tham gia tố tụng tại phiên toà; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tại phiên toà bị cáo đã nhất trí hoàn toàn với nội dung bản cáo trạng được đại diện Viện kiểm sát công bố và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với các lời khai của những người tham gia tố tụng, qua đó cho thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Minh Hóa, Viện kiểm sát huyện Minh Hóa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[ 2] Hành vi của bị cáo: Khoảng 23 giờ ngày 17/9/2019, tại “Vực R” thuộc khu vực ráp gianh giữa xã T H và xã M H, huyện M H, C V H đã có hành vi dùng tay bóp miệng, tát vào mặt, siết cổ và đấm vào bụng T T L N, H còn dùng con dao đe dọa giết và rạch mặt N, làm cho N hoảng sợ. Sau đó thực hiện hành vi quan hệ tình dục trái với ý muốn của T T L N.

Tại phiên tòa bị cáo C V H đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ đã được kiểm tra tại phiên tòa. Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa đưa ra quan điểm xét xử vụ án là có căn cứ nên chấp nhận. Do đó Hội đồng xét xử kết luận bị cáo C V H phạm tội “Hiếp dâm” theo khoản 4 Điều 141Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Xét tính chất hành vi, hậu quả do bị cáo gây ra vụ án cho thấy: Đây là hành vi phạm tội có tính chất táo bạo và liều lĩnh, hành vi của bị cáo thể hiện tính coi thường pháp luật, xâm phạm đến nhân phẩm và danh dự của công dân, ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục của xã hội.Vì vậy hành vi trên cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm minh nhằm trừng trị, cải tạo thành người tốt và răn đe, giáo dục chung trong xã hội.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nhân thân: bị cáo C V H có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng Tình tiết tăng nặng: không có tình tiết tăng nặng Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, thấy được lỗi lầm của mình, gia đình bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả và bồi thường tổn thất về tinh thần do bị cáo gây ra cho người bị hại. Gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo có giấy xác nhận của UBND xã T H. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo H ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo thấy được lỗi lầm của mình và và răn đe giáo dục chung. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi nên Hội đồng xét xử sẻ giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được tính nhân đạo và khoan hồng của Pháp luật Nhà nước.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra gia đình bị cáo C V H đã bồi thường cho gia đình bị hại T T L N số tiền: 10.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. Người bị hại T T L N yêu cầu bị cáo bồi thường tổn thất về tinh thần số tiền 20.000.000 đồng, gia đình bị cáo cùng với bị cáo đã bồi thường cho bị hại và bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về vật chứng vụ án:

- Ngày 22/10/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Minh Hóa đã ra Quyết định xử lý vật chứng số: 29/QĐ – CQĐT bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu Đ T H Tr chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, kiểu máy: A3S, màu đen, số IMEL 1: 868125042124392, số IMEL 2: 86968603214384, điện thoại đã qua sử dụng. Trả lại cho chủ sở hữu T T Th chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, kiểu máy: A83(2018), màu đỏ, số IMEL 1: 869686032147312, số IMEL 2: 869686032147304, điện thoại đã qua sử dụng. - Ngày 06/11/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Minh Hóa đã ra Quyết định xử lý vật chứng số: 31/QĐ – CQĐT bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu T T L N 01 (Một) áo phông trắng, sọc đen, áo loại nữ, dài 50cm, rộng 43cm, không có dấu vết gì để lại trên áo, áo cũ đã qua sử dụng; 01 (Một) quần vải màu đen, quần loại nữ, quần lững, nhãn hiệu: ZARA BASIC FASHION, dài 68cm, lưng quần dài 32cm, ống quần mỗi bên dài 30cm, không thu được dấu vết gì để lại trên quần, quần cũ đã qua sử dụng; 01 (Một) áo ngực màu hồng gạch, không thu được dấu vết gì để lại trên áo ngực, áo ngực cũ đã qua sử dụng; 01 (Một) quần lót nữ , màu gạch, lưng quần dài 30cm, chiều dài khoảng 19cm, quần cũ đã qua sử dụng.

Việc xử lý vật chứng này của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Minh Hóa là đúng quy định của pháp luật nên không xem xét.

Số vật chứng còn lại gồm:

- 01 (Một) xe mô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, biển kiểm soát: 73C1-096.., màu sơn: Đỏ đen, đã qua sử dụng;

- 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, biển kiểm soát: 73C1-096..;

- 01 (Một) giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe mô tô biển kiểm soát: 73C1-096..;

- 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu MASSTEL, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết máy bên trong;

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu trắng, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết máy bên trong.

- 01 (Một) dụng cụ tự chế bằng nhựa, dạng hình khẩu súng dài 140cm, phần than là bình khí bằng nhựa dài 23cm, đường kính lớn nhất 9cm, cuối bình có nút vặn bằng nhựa, trước bình nối thông được cố định với đoạn ống nhựa hình chữ Z dài 36cm, đường kính ngoài 4cm. Đầu trước đoạn ống nhựa hình chữ Z nối với phần nòng dài 81cm, vỏ là ống nhựa, quấn băng dính màu đen, đường kính 1,2cm, ruột là ống kim loại đường kính 0,8cm. Gắn với phần nòng là bơm hơi dài 47cm, đường kính 3,2cm, vòi bơm làm bằng ống nhựa màu xanh gắn với van nạp của bình khí.

- 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, màu vàng đồng, kiểu máy: A37+, số IMEL 1: 862646039604696, số IMEL 2: 862646039604688, màn hình điện thoại bị vỡ không rõ hình, điện thoại đã qua sử dụng;

- 01 (Một) con dao bằng kim loại, có chiều dài 26,2cm, màu đen, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 11,5cm, chỗ rộng nhất 2,3cm, mũi của lưỡi dao nhọn, cán của con dao được làm bằng kim loại, có chiều dài 14,7cm, chỗ rộng nhất 4,7cm, chỗ hẹp nhất 02cm.

- 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 5S, màu GOLD, số IMEL: 358809055789954, đã qua sử dụng.

Căn cứ điểm a khoản 2, Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy:

- 01 (Một) dụng cụ tự chế bằng nhựa, dạng hình khẩu súng dài 140cm, phần than là bình khí bằng nhựa dài 23cm, đường kính lớn nhất 9cm, cuối bình có nút vặn bằng nhựa, trước bình nối thông được cố định với đoạn ống nhựa hình chữ Z dài 36cm, đường kính ngoài 4cm. Đầu trước đoạn ống nhựa hình chữ Z nối với phần nòng dài 81cm, vỏ là ống nhựa, quấn băng dính màu đen, đường kính 1,2cm, ruột là ống kim loại đường kính 0,8cm. Gắn với phần nòng là bơm hơi dài 47cm, đường kính 3,2cm, vòi bơm làm bằng ống nhựa màu xanh gắn với van nạp của bình khí.

- 01 (Một) con dao bằng kim loại, có chiều dài 26,2cm, màu đen, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 11,5cm, chỗ rộng nhất 2,3cm, mũi của lưỡi dao nhọn, cán của con dao được làm bằng kim loại, có chiều dài 14,7cm, chỗ rộng nhất 4,7cm, chỗ hẹp nhất 02cm.

Căn cứ điểm b khoản 3, Điều 106 BLTTHS:

Trả lại cho bị cáo C V H:

- 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, màu vàng đồng, kiểu máy: A37+, số IMEL 1: 862646039604696, số IMEL 2: 862646039604688, màn hình điện thoại bị vỡ không rõ hình, điện thoại đã qua sử dụng;

Trả lại cho bà Đ T H và ông C N T là chủ sở hữu:

- 01 (Một) xe mô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, biển kiểm soát: 73C1-096.., màu sơn: Đỏ đen, đã qua sử dụng;

- 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, biển kiểm soát: 73C1-096..;

- 01 (Một) giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe mô tô biển kiểm soát: 73C1-096..;

- 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu MASSTEL, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết máy bên trong;

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu trắng, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết máy bên trong.

Trả lại cho chị T T L N:

- 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 5S, màu GOLD, số IMEL: 358809055789954, đã qua sử dụng.

Số vật chứng trên đã đựơc chuyển giao và hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Minh Hóa theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/11/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Minh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa.

[8]. Về hình phạt bổ sung: Không.

[9] Khẩu súng cồn tự chế mà C V H mang theo tối ngày 17/09/2019 là của anh Đ Q T, sinh năm 1985, Thảo là cậu ruột của H. Khẩu súng này anh T khai là đã nhặt được trong một lần đi rừng rồi đem về cất giấu ở nhà bếp. Ngày 17/9/2019 H tự ý lấy súng mang theo đến điểm hẹn để gặp N. Tại bản kết luận giám định số: 927/GĐ(PC09), ngày 01/11/2019 của Phòng PC09 Công an tỉnh Quảng Bình, kết luận: Khẩu súng trên không phải là vũ khí quân dụng, là súng tự chế, thuộc loại đồ chơi nguy hiểm. Tại thời điểm giám định súng không hoạt động. Do vậy, hành vi của Đ Q T không phạm vào tội: Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng. Hành vi của T đã phạm vào điểm g khoản 3 Điều 10 Nghị định 176/2013/NĐ-CP: Không giao nộp vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ theo quy định. Ngày 09/11/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Minh Hóa đã chuyển hồ sơ để xử phạt vi phạm hành chính đối với T về hành vi này.

[10] Về án phí: Bị cáo C V H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1-Tuyên bố bị cáo C V H phạm tội: “Hiếp dâm”

- Áp dụng khoản 4 Điều 141; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo C V H.

Xử phạt bị cáo C V H 20 (Hai mươi) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 18/9/2019.

Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo C V H 45 ngày để bảo đảm thi hành án.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 2, Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy:

- 01 (Một) dụng cụ tự chế bằng nhựa, dạng hình khẩu súng dài 140cm, phần than là bình khí bằng nhựa dài 23cm, đường kính lớn nhất 9cm, cuối bình có nút vặn bằng nhựa, trước bình nối thông được cố định với đoạn ống nhựa hình chữ Z dài 36cm, đường kính ngoài 4cm. Đầu trước đoạn ống nhựa hình chữ Z nối với phần nòng dài 81cm, vỏ là ống nhựa, quấn băng dính màu đen, đường kính 1,2cm, ruột là ống kim loại đường kính 0,8cm. Gắn với phần nòng là bơm hơi dài 47cm, đường kính 3,2cm, vòi bơm làm bằng ống nhựa màu xanh gắn với van nạp của bình khí.

- 01 (Một) con dao bằng kim loại, có chiều dài 26,2cm, màu đen, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 11,5cm, chỗ rộng nhất 2,3cm, mũi của lưỡi dao nhọn, cán của con dao được làm bằng kim loại, có chiều dài 14,7cm, chỗ rộng nhất 4,7cm, chỗ hẹp nhất 02cm.

Căn cứ điểm b khoản 3, Điều 106 BLTTHS:

Trả lại cho bị cáo C V H:

- 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, màu vàng đồng, kiểu máy: A37+, số IMEL 1: 862646039604696, số IMEL 2: 862646039604688, màn hình điện thoại bị vỡ không rõ hình, điện thoại đã qua sử dụng;

Trả lại cho bà Đ T H và ông C N T là chủ sở hữu:

- 01 (Một) xe mô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, biển kiểm soát: 73C1-096.., màu sơn: Đỏ đen, đã qua sử dụng;

- 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, biển kiểm soát: 73C1-096..;

- 01 (Một) giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe mô tô biển kiểm soát: 73C1-096..;

- 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu MASSTEL, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết máy bên trong;

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu trắng, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết máy bên trong.

Trả lại cho chị T T L N, địa chỉ: Thôn Tân Trung, xã Minh Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình.

- 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 5S, màu GOLD, số IMEL: 358809055789954, đã qua sử dụng.

Số vật chứng trên đã đựơc chuyển giao vàhiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Minh Hóa theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/11/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Minh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa.

3.Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo C V H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (13/12/2019) để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử theo trình tự phúc thẩm.


18
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 42/2019/HS-ST ngày 13/12/2019 về tội hiếp dâm

Số hiệu:42/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Minh Hóa - Quảng Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:13/12/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về