Bản án 42/2018/HS-PT ngày 15/03/2018 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 42/2018/HS-PT NGÀY 15/03/2018 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Ngày 15/3/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2018/TLPT-HS ngày 12/02/2018 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Q do có kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của đại diện hợp pháp người bị hại – ông Lê T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2018/HSST ngày 11/01/2018 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1971 tại Quảng Nam; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã Q, huyện L, tỉnh Quảng Nam; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông Nguyễn B (c) và bà Võ Thị Ngọc L (s); Có vợ là Nguyễn Thị Kim V và có 03 con: con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại có kháng cáo: Ông Lê T, sinh năm 1983. Trú tại: Tổ 08, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13h10’ ngày 05/7/2017, Nguyễn Ngọc Q là nhân viên lái xe công ty

TNHH A, trụ sở tại xã Đ, huyện L, tỉnh Quảng Nam, điều khiển xe ô tô tải BKS 92C - 090.xx (tải trọng 17,62 tấn) của công ty đi trên đường Tôn Đức Thắng theo đường Huế - Đà Nẵng, khi đến ngã ba đường Tôn Đức Thắng- Hoàng Văn Thái thuộc địa phận phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Q cho xe giảm tốc độ, chuyển làn đường và bật đèn xi nhan bên phải để thực hiện việc chuyển hướng vào đường Hoàng Văn Thái là đường cấm xe có tải trọng trên 10,5 tấn lưu thông. Trong lúc chuyển hướng do thiếu quan sát phía trước và bên phải xe ô tô nên Q không phát hiện xe mô tô BKS 75K1- 164.xx do chị Trương Thị Kim P điều khiển chở phía sau cháu Lê Quốc T chạy cùng chiều bên phải phía trước gần đầu xe ô tô trên làn đường giành cho xe thô sơ, nên khi Q thực hiện việc chuyển hướng thì mặt lăn bánh trước bên phải trên xe ô tô tông vào mặt sau ốp nhựa bảo vệ động cơ trên xe mô tô do chị P điều khiển. Cú tông làm chị P và cháu T ngã xuống đường, cháu T bị bánh xe trước bên phải xe ô tô cán trúng và tử vong ngay tại chỗ, chị P bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đà Nẵng.

Theo bản kết luận giám định số 427/GĐ-PY ngày 12/7/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP. Đà Nẵng kết luận: Cháu Lê Quốc T tử vong là do đa chấn thương.

Ngày 20/9/2017, Trung tâm Pháp y thành phố Đà Nẵng có Kết luận giám định pháp y về thương tích số 308/TgT kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị Trương Thị Kim P là 29%.

Tại Bản án sơ thẩm số 02/2018/HSST ngày 11/01/2018 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

Áp dụng Khoản 1 Điều 202 BLHS 1999; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt: Nguyễn Ngọc Q 12 (Mười hai) tháng tù về tội "Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ". Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo bản án.

Ngày 17/01/2018, bị cáo Nguyễn Ngọc Q có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo với lý do án sơ thẩm xử quá nặng. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi sự việc xảy ra đã khắc phục hậu quả cho người bị hại và gia đình người bị hại bãi nại cho bị cáo; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình nuôi mẹ già và vợ cùng 03 con nhỏ; bị cáo có nhân thân tốt, là bộ đội xuất ngũ, chưa có tiền án, tiền sự; gia đình bị cáo có công cách mạng.

Ngày 17/01/2018, người đại diện hợp pháp của người bị hại – ông Lê T có đơn kháng cáo với nội dung xin cho bị cáo Nguyễn Ngọc Q được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Đơn kháng cáo của bị cáo theo đúng thủ tục và trong thời hạn kháng cáo. Về nội dung đơn kháng cáo Kiểm sát viên cho rằng Bản án sơ thẩm số 02/2018/HSST ngày 11/01/2018 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu xử phạt bị cáo mức án 12 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo Khoản 1 Điều 202 BLHS của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội, Tuy nhiên, xét thấy sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi sự việc xảy ra đã khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính còn nuôi mẹ già và vợ cùng 03 con nhỏ; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, là bộ đội xuất ngũ; gia đình bị cáo có công cách mạng, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo Nguyễn Ngọc Q và đại diện hợp pháp của người bị hại đều giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Ngọc Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó HĐXX có đủ cơ sở để khẳng định:  Vào ngày 05/7/2017, tại ngã ba Hoàng Văn Thái –Tôn Đức Thắng, bị cáo Nguyễn Ngọc Q điều khiển xe ô tô BKS 92C – 090.85 chuyển hướng không an toàn, không chú ý quan sát đã va chạm với xe mô tô BKS 75K1 – 164.91 do bà Trương Thị Kim P điều khiển chở phía sau là em Lê Quốc T. Hậu quả: em T tử vong do đa chấn thương và bà P bị thương tích với tỷ lệ 29%. Lỗi hoàn toàn do bị cáo gây ra. Vì vậy, Bản án sơ thẩm số 02/2018/HSST ngày 11/01/2018 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử bị cáo Nguyễn Ngọc Q về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự 1999 là có căn cứ, đúng tội.

[2]. Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc Q và kháng cáo của đại diện hợp pháp người bị hại – ông Lê T, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe của người khác, đồng thời gây mất trật tự an toàn xã hội. Do đó, đối với bị cáo cần phải xử phạt thỏa đáng. Tuy nhiên, xét thấy sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, lo khắc phục hậu quả, bồi thường toàn bộ cho gia đình người bị hại số tiền
30 triệu đồng. Đại diện hợp pháp người bị hại tha thiết mong HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo. Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính còn nuôi mẹ già và vợ cùng 03 con nhỏ; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, là bộ đội xuất ngũ; gia đình bị cáo có công cách mạng, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng thoả đáng. Vì vậy, HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo cũng như kháng cáo của đại diện hợp pháp của người bị hại, sửa án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

[3]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.  Căn cứ vào Điểm b Khoản 1 Điều 355 và điểm e Khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc Q và kháng cáo của đại diện hợp pháp người bị hại – ông Lê T, sửa án sơ thẩm.

Áp dụng Khoản 1 Điều 202 BLHS 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14; khoản 3 Điều 7; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt: Nguyễn Ngọc Q 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội "Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ". Thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm hôm nay. Ngày 15/03/2018. Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

2. Về án phí: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Ngọc Q và đại diện hợp pháp của người bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3.Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


93
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về