Bản án 41/2021/HNGĐ-ST ngày 14/01/2021 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

BẢN ÁN 41/2021/HNGĐ-ST NGÀY 14/01/2021 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 14 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 22/2020/TLST - HNGĐ, ngày 27/10/2020, về việc tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2020/QĐXX-ST, ngày 06/12/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2020/QĐHPT, ngày 22 tháng 12 năm 2020; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thu T, sinh năm 1991 Địa chỉ: Đội 1, thôn V, xã Ân Tín, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

- Bị đơn: Anh Võ Kỳ T1, sinh năm 1982:

Địa chỉ: Đội 1, thôn T, xã Ân Mỹ, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt; anh T vắng mặt lần thứ 02 không có lý do.

 NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 19/10/2020 và các văn bản tiếp theo nguyên đơn Lê Thị Thu T trình bày: Chị và anh T tìm hiểu thời gian ngắn và tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ân Mỹ, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định vào ngày 25/7/2013. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc cùng gia đình nhà chồng và đã được 01 con chung tên Võ Thị B, sinh ngày 19/11/2014. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến ngày 21 tháng 11 năm 2015 phát sinh mâu thuẫn gay gắt, nguyên nhân chính là do chị bị bệnh sau khi sinh con, không có sữa cho con bú, anh T1 và gia đình của anh T1 cho rằng chị bị bệnh hiểm nghèo nên không quan tâm đến chị và con chị và anh T1 cũng không có lập trường nghe lời gia đình chưởi bới, xúc phạm chị và gia đình chị; chị không thể tiếp tục chung sống cùng gia đình anh T1, nên đã bồng con bỏ về nhà cha mẹ đẻ sống từ ngày 22/5/2015 cho đến nay. Nay chị nhận thấy không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân nữa vì hai người không còn yêu thương nhau nên chị nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T1.

Về Con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Võ Thị B, sinh ngày 19/11/2014, lâu nay con sống với chị, ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000,đ cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa giải quyết.

Bị đơn Võ Kỳ T1: Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân đã tiến hành tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng cho anh T1, nhưng anh T1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án không có lý do. Anh T1 cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ, không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi, nhận đơn, thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Trong thời gian chung sống chị T và anh T1 có phát sinh nhiều mâu thuẫn do gia đình anh T1 gây áp lực căng thẳng, anh T1 không có lập trường nghe lời gia đình chưởi bới, xúc phạm gia đình chị T, không có trách nhiệm gì đối với vợ con; giữa chị T và anh T1 đã có thời gian sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay, chị T kiên quyết xin ly hôn. Anh T không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án, không có ý kiến về việc ly hôn cũng không thể hiện nguyện vọng muốn nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị T được ly hôn với anh T1, giao người con chung cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, buộc anh T1 cấp dưỡng nuôi con cho chị T mỗi tháng 1.000.000,đ là phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[ 1] Về tố tụng: Chị Lê Thị Thu T khởi kiện vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con với bị đơn anh Võ Kỳ T1 có nơi cư trú tại xã Ân Mỹ, huyện Hoài Ân, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thu T và anh Võ Kỳ T1 có thời gian tìm hiểu và tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ân Mỹ, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, có chứng nhận kết hôn số 51/2013 ngày 25/7/2013 nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3]. Chị Lê Thị Thu T yêu cầu ly hôn với lý do anh Võ Kỳ T1 không có lập trường, nghe lời gia đình, chưởi bới, xua đuổi, xúc phạm chị T; mặt dù chị T và gia đình nhà vợ đã động viên thuyết phục, nhưng anh T1 không thay đổi, điều này đã làm cho tình cảm vợ chồng không còn, giữa chị T và anh T1 đã sống ly thân với nhau từ tháng 5/2015 cho đến nay, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau nữa. Tại biên bản xác minh ngày 09/11/2020, chính quyền địa phương xác nhận việc mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh T1 chính quyền địa phương không biết, hiện tại chỉ có hộ khẩu của anh T1, chị T và cháu B ở cùng hộ gia đình với bà Trần Thị C tại thôn T, xã Ân Mỹ, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, hiện tại anh T1 đi làm ăn ở thành phố Hồ Chí Minh, thỉnh thoảng có về nhà tại thôn T, xã Ân Mỹ. Hiện nay chị T làm nông và chăn nuôi cùng gia đình cha mẹ đẻ, thu nhập bình quân khoảng 3.900.000,đ/ tháng.

[3.1]. Hội đồng xét xử xét thấy: Giữa chị T và anh T1 có nhiều mâu thuẫn, hiện nay không còn sống chung, chị T kiên quyết ly hôn. Tuy được thông báo, tống đạt toàn bộ các thủ tục tố tụng nhưng anh T1 không tham gia hòa giải, không thể hiện mong muốn đoàn tụ cùng chị T; điều này cho thấy mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.

[4] Về nuôi con chung: Từ khi anh chị ly thân (tháng 5 năm 2015) cho đến nay chị T trực tiếp nuôi người con chung tên Võ Thị B, sinh ngày 19/11/2014, hiện đang sống với ông bà ngoại và mẹ của cháu tại thôn H, xã Ân Tín, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Anh T1 không thể hiện nguyện vọng muốn nuôi con, nên Hội đồng xét xử thống nhất giao người con chung tên Võ Thị B cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Căn cứ Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình thì cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Chị T có yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con 1.000.000,đ/tháng. Yêu cầu của chị T phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị T, cần buộc anh Võ Kỳ T1 phải cấp dưỡng nuôi con Võ Thị B mỗi tháng 1.000.000,đ, kể từ tháng 02/2021 cho đến khi con đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định của pháp luật.

[5]. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

[6]. Về án phí sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên Tòa hôm nay là phù hợp với nhận định của Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 207, 227, 228, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 51; khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83, 84 và 85 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Thu T.

1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị Thu T được ly hôn anh Võ Kỳ T1.

Giấy chứng nhận kết hôn số 51/2013 do Ủy ban nhân dân xã Ân Mỹ, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, cấp ngày 25/7/2013 không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Võ Thị B, sinh ngày 19/11/2014 cho chị T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Buộc anh Võ Kỳ T1 phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000,đ, kể từ tháng 02/2021 cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí sơ thẩm:

Chị Lê Thị Thu T phải chịu 300.000,đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu số 0001787, ngày 27/10/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

Anh Võ Kỳ T phải nộp 300.000,đ án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ theo quyết định của Tòa án.

[ 4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


13
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 41/2021/HNGĐ-ST ngày 14/01/2021 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:41/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hoài Ân - Bình Định
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:14/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về