Bản án 41/2020/HS-ST ngày 12/06/2020 về tội cướp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 41/2020/HS-ST NGÀY 12/06/2020 VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN

Ngày 12 tháng 6năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2020/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2020. Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2020/HSST-QĐ ngày 21 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn S, sinh năm 1990 tại SM, KD, Hưng Yên; Nơi cư trú: Thôn HĐ, xã SM, huyện KĐ, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính; Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên chúa; con ông: Nguyễn Văn C và bà Trần Thị T; vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; tiền sự: Ngày 11/3/2019, Công an huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 53/QĐ-XPHC đối với Nguyễn Văn S về hành vi: Xâm hại đến sức khỏe của người khác. Ngày 22/3/2019, S đã chấp hành xong, chưa được xóa tiền sự.

Nhân thân: Ngày 06/6/2012, Nguyễn Văn S phạm tội: Cướp tài sản. Bản án sơ thẩm số 345/2012/HSST ngày 18/10/2012 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt Sao 45 tháng tù về tội: Cướp tài sản. Ngày 07/5/2015, Sao chấp hành xong bản án. Đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/12/2019, tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hải Dương theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số 04/CQĐT ngày 20/12/2019 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Gia Lộc( có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Trọng H – Luật sư văn phòng luật sư Công Tâm; địa chỉ X – MHD - TP Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk (có mặt).

- Bị hạiAnh Lê Văn K, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn ĐL, xã HD, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương (vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng - Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1958 và bà Trần Thị T, sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn HĐ, xã SM, huyện KĐ, tỉnh Hưng Yên (có mặt).

- Anh Nguyễn Khắc C, sinh năm 1992. Địa chỉ: Khu Y, thị trấn GL, huyện GL, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).

- Anh Trần Hồng Q, sinh năm 1997. Địa chỉ: Thôn PT , xã TT, huyện GL, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).

- Chị Đặng Thị M, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn PK, xã HH, huyện GL, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).

- Anh Lê Trung H, sinh năm 2002. Địa chỉ: Thôn Thịnh Thành, xã Thanh Cường, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Thời gian khoảng tháng 9/2019, anh Nguyễn Khắc C, sinh năm 1992; trú tại: Khu Y, thị trấn GL, huyện GL, tỉnh Hải Dương cho anh Lê Văn K, sinh năm 1988; trú tại: Thôn ĐL , xã HD, huyện GL, tỉnh Hải Dương vay tiền. Khi vay, giữa anh C và anh K không viết giấy tờ vay mượn, không thỏa thuận về lãi suất và thời gian trả tiền vay. Khoảng tháng 12/2019, anh C có nói chuyện với Nguyễn Văn S việc Khanh vay nợ số tiền 20.000.000 đồng, anh C đã đòi nợ một số lần nhưng anh K chưa trả nợ. Do anh C hàng ngày đi làm nên không có thời gian để đòi nợ nên Sao nhận đòi hộ anh C số tiền này.

Khong 15 giờ 00 phút ngày 17/12/2019, Nguyễn Văn S đang cùng anh Trần Hồng Q, sinh năm 1997; trú tại: Thôn PT, xã TT, huyện GL, tỉnh Hải Dương ngồi chơi, uống nước tại quán Trà chanh S + ở khu 1, thị trấn Gia Lộc, huyện Gia Lộc thì gặp anh anh Lê Văn K. Sao gọi anh K vào nói chuyện và yêu cầu anh K phải trả nợ số tiền 20.000.000 đồng đã vay của anh C. Anh K trình bày do hoàn cảnh khó khăn, chưa có tiền nên chưa trả nợ được. Sao chửi bới và dùng tay đấm vào vùng mặt, vùng cổ anh K, dùng chân đá vào người anh K làm chiếc dép bên phải của S đang đi bị rách quai bên phải, còn anh K ngã ra nền quán. Anh K tiếp tục xin khất nợ, S tiếp tục chửi bới, đe dọa rồi cầm một chiếc ghế nhựa màu vàng trong quán nước giơ lên đập hai, ba cái vào lưng anh K. S yêu cầu anh K đúng một tiếng rưỡi sau phải có mặt tại quán Trà chanh S + và mang đủ số tiền 20.000.000 đồng đểtrả nợ cho S. Đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, anh K nhờ chị Đặng Thị M, sinh năm 1980; trú tại: Thôn PK, xã HH, huyện GL, tỉnh Hải Dương chở anh K đến quán Trà chanh S+để gặp S. Tại đây, anh K một mình vào ngồi tại bàn uống nước ở vỉa hè của quán, chị Mai chờ ở ngoài đường cách đó khoảng 04 m. Cùng lúc này, S nhờ anh Lê Trung H, sinh năm 2002; trú tại: thôn TT , xã TC, huyện TH, tỉnh Hải Dương là người quen của S điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu vàng-đen, BKS: 34F1-080.42 chở S ra gặp anh K. Khi đến quán trà chanh, anh H đứng gần đó chờ, S một mình đến ngồi cạnh anh K. S hỏi về việc trả nợ thế nào. Anh K tiếp tục trình bày hoàn cảnh khó khăn, không lo được tiền và xin khất nợ. Ngay lập tức, S dùng chân tay đánh, đá vào người anh K, vừa đánh S vừa chửi bới, bắt anh K quỳ xuống nền đất và yêu cầu anh K phải trả nợ. Tiếp đó, S nhặt được một viên gạch chỉ màu đỏ, kích thước (20x09x05) cm gần đó rồi đi đến chỗ anh K, S cầm gạch bằng tay phải đập một cái vào đầu gối trái của anh K khiến cho anh K ngồi bệt xuống nền vỉa hè. S vẫn cầm viên gạch đe dọa anh K và yêu cầu trả nợ. Anh K xin S cho khất nợ nhưng S không đồng ý, S tiếp tục chửi bới và cầm viên gạch đe dọa anh K. Anh K bị đánh đau, sợ hãi, lấy trong túi quần ra số tiền 15.000.000 đồng và đưa cho S. S cầm tiền anh K đưa và hỏi “Bao nhiêu?”, anh K trả lời về số tiền thì S tiếp tục yêu cầu anh K phải trả đủ số tiền 20.000.000 đồng. Cùng lúc đó, Công an huyện Gia Lộc và Công an thị trấn Gia Lộc có mặt, lập biên bản về vụ việc đối với Nguyễn Văn S. Thu giữ của Nguyễn Văn S số tiền 15.000.000 đồng, là tiền S vừa chiếm đoạt của anh Lê Văn K; 01 viên gạch màu đỏ, kích thước (20x09x05) cm; 01 đôi dép da màu đen, chiếc bên phải bị rách. Vụ án được điều tra làm rõ.

Sau khi sự việc xảy ra, anh Lê Văn K bị đau ở phần đầu gối trái, cánh tay trái và vùng lưng. Ngày 19/12/2019, anh K đi khám, chụp chiếu tại Bệnh viện Đa khoa huyện Gia Lộc, tuy nhiên vết thương phần mềm nhẹ nên không phải điều trị tại cơ sở y tế nào, trong quá trình điều tra anh K từ chối giám định thương tích.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 25/3/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội "Cướp tài sản" theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị HĐXX: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội "Cướp tài sản". Về hình phạt : Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

-Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 21/12/2019.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về vật chứng:Tịch thu cho tiêu hủy 01 viên gạch màu đỏ, 01 đôi dép màu đen là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí số 97/2015 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn S nhất trí tội danh, điều luật Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX xem xét nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo, xuất phát từ mối quan hệ bạn bè giữa bị cáo và anh Nguyễn Khắc C về việc anh C cho anh K vay tiền nhưng anh C đòi nhiều lần, anh K khất nợ không trả nên bị cáo đã có hành vi dùng tay chân đấm, đá dùng ghế nhựa đánh anh K buộc anh K trả nợ. Tuy nhiên anh K hẹn bị cáo 16 giờ cùng ngày sẽ mang tiền trả nhưng khi gặp bị cáo anh K lại tiếp tục nói không có tiền trả nên bị cáo bức xúc do không làm chủ được bản thân nên bị cáo đã thực hiện hành vi như vậy. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường chi phí vết thương cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị HĐXX áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, xử bị cáo dưới khung thấp nhất của khung hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Gia Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, biên bản vụ việc cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ đến 16 giờ ngày 17/12/2019 tại quán Trà chanh S+ thuộc khu X, thị trấn GL, huyện GL, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn S đã có hành vi dùng lời nói đe dọa, chửi bới, dùng chân, tay đánh, dùng chiếc ghế nhựa màu vàng của quán Trà chanh đập vào lưng và dùng 01 viên gạch chỉ màu đỏ đập vào đầu gối trái anh Lê Văn K, trú tại Thôn ĐL , xã HD, huyện GL, mục đích để bắt anh K phải đưa số tiền 20.000.000 đồng cho S. Do bị Nguyễn Văn S đánh và đe dọa nên anh K không dám chống cự, sợ hãi buộc phải đưa cho S số tiền 15.000.000 đồng. Khi S tiếp tục yêu cầu anh K phải đưa đủ số tiền 20.000.000 đồng thì ngay lúc đó lực lượng Công an huyện Gia Lộc và Công an thị trấn Gia Lộc có mặt, lập biên bản và thu giữ vật chứng.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người bị hại anh Lê Văn K, đây là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, hành vi phạm tội của bị cáo còn làm mất trị an trên địa bàn địa phương, gây tâm lý hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, chứ không như quan điểm của Luật sư bào chữa cho rằng do bị cáo bị bức xúc vì bị hại không trả tiền, bị cáo không nhận thức được hành vi của mình nên mới có hành vi xử sự với bị hại như vậy là không có căn cứ. Hành vi dùng lời nói đe dọa, chửi bới, dùng chân, tay đánh, sử dụng chiếc ghế nhựa màu vàng của quán Trà chanh đập vào lưng và dùng 01 viên gạch chỉ màu đỏ đập vào đầu gối trái anh K làm cho anh K lâm vào tình trạng không thể chống cự được buộc anh K phải đưa cho S số tiền 15.000.000đồng, theo hướng dẫn tại mục 2.2 và mục 2.3 phần 2 Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được coi là hành vi “ sử dụng phương tiện nguy hiểm” để phạm tội, nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” với tình tiết định khung “Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình. Xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc truy tố bị cáo và luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mặc dù anh K bị bị cáo dùng tay chân đấm đá, dùng gạch đập vào đầu gối, dùng ghế nhựa đập vào lưng tác động gây ra vết thương phần mềm trên cơ thể, anh K đã đến cơ sở y tế khám chụp vết thương và không phải điều trị nên anh K từ chối giám định thương tích nhưng bị cáo đã tác động đến thân nhân tự nguyện bồi thường tiền khám,chiếu chụp phim cho anh K với số tiền 1.500.000đồng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị hại anh K xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo bị truy tố, xét xử về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự trong khi giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt trong vụ này trị giá dưới 50.000.000 đồng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Gây thiệt hại không lớn” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị hại anh K xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự

[5]Căn cứ quy định của bộ luật hình sự, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo HĐXX thấy: Tại phiên tòa Luật sư bào chữa cho bị cáo có quan điểm đề nghị HĐXX, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị áp dụng cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới khung theo quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự. HĐXX xét thấy mặc dù bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo có 01 tiền sự về tội xâm hại sức khỏe người khác chưa được xóa tiền sự, bị cáo cũng đã từng bị kết án về cùng loại tội, tại Bản án sơ thẩm số 345/2012/HSST ngày 18/10/2012 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt S 45 tháng tù về tội”Cướp tài sản”, mặc dù bản án này không được coi là có án tích nhưng được xác định bị cáo có nhân thân xấu. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện bản thân nay lại phạm tội rất nghiêm trọng với lỗi cố ý nên dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng không thể áp dụng xử mức án dưới khung theo quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự mà cần nên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo buộc bị cáo cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người tốt và phòng ngừa chung trong xã hội có hiệu quả.

[6]Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có thu nhập, không có tài sản riêng nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp khoản 6 Điều 168 Bộ luật hình sự.

[7]Về trách nhiệm dân sự:Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Văn S đã tác động cho bố mẹ bị cáo ông C, bà T bồi thường cho anh Lê Văn K số tiền 1.500.000đồng là chi phí khám chữa vết thương, tiền thuốc, tiền mất thu nhập ngày công lao động. Anh K không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm bất kỳ khoản tiền nào khác nên HĐXX không đặt ra giải quyết. Ông C, bà T tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải trả lại mà cho bị cáo số tiền này nên HĐXX không đặt ra giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Gia Lộc đã trả lại cho anh K số tiền 15.000.000đồng mà Nguyễn Văn S đã chiếm đoạt của anh Lê Văn K là phù hợp pháp luật. Đối với 01 viên gạch màu đỏ, kích thước (20x09x05) cm; 01 đôi dép da màu đen, chiếc bên phải bị rách, có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đi vớichiếc ghế nhựa màu vàng, bị cáo S sử dụng để đánh vào lưng anh K, đây là chiếc ghế của quán Trà chanh S

+. Khi những người liên quan rời khỏi quán, nhân viên trong quán đã thu dọn để chung chiếc ghế này vào cùng những chiếc ghế nhựa màu vàng khác của quán nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Lộc không thu giữ, quản lý được nên không đặt ra xử lý là phù hợp pháp luật.

- Dữ liệu điện tử hình ảnh trích xuất từ camera của quán Trà chanh S+ do chị Trần Thị Thu H là người quản lý, đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Gia Lộc S chép ra 01 USB được niêm phong trong bì thư là chứng cứ chứng minh tội phạm nên được lưu trong hồ sơ vụ án là phù hợp pháp luật.

[9]Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

[10] Các vấn đề khác: Quá trình điều tra xác định anh Nguyễn Khắc C không biết sự việc ngày 17/12/2019 S đã đánh anh K để lấy tiền của anh K, nên không có căn cứ xử lý đối với anh C là phù hợp pháp luật.

Đi với anh Lê Trung H là người chở S đến quán Trà Chanh, anh H không biết việc S đến quán là để đòi nợ, chiếm đoạt tiền của anh K nên không có căn cứ để xử lý đối với anh H là phù hợp pháp luật.

Bởi các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b,h s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 củaBộ luật tố tụng hình sự. Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1.Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội Cướp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 07 (bẩy năm) tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 21/12/2019.

2. Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 01 viên gạch màu đỏ, kích thước (20x09x05) cm; 01 đôi dép da màu đen, chiếc bên phải bị rách (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Gia Lộc và Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lộc ngày 10 tháng 4 năm 2020)

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


38
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về