Bản án 41/2020/HS-PT ngày 01/06/2020 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 41/2020/HS-PT NGÀY 01/06/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Trong các ngày 29/5 và ngày 01/6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 39/2020/HSPT ngày 07 tháng 4 năm 2020 đối với các bị cáo Lê Đình T và đồng phạm.

Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2020/HS-ST ngày 17/02/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Lê Đình T, sinh năm 1977 tại T2 Hóa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú khu phố 5, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê Đình L (đã chết) và bà Lê Thị T, sinh năm 1957; bị cáo có vợ là chị Lại Thị M, sinh năm 1981 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2019 đến ngày 12/7/2019 được tại ngoại “có mặt”.

2. Nguyễn Văn T1, sinh năm 1974 tại T2 Hóa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú ấp 7, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1949 và bà Vũ Thị N, sinh năm 1950; bị cáo có vợ là chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1981 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được tại ngoại “có mặt”.

3. Nguyễn Hải C, sinh năm 1975 tại Nghệ An; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú ấp 7, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1948 và bà Lưu Thị B, sinh năm 1949; bị cáo có vợ là chị Trần Thị H, sinh năm 1976 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2019 đến ngày 12/7/2019 được tại ngoại “có mặt”.

4. Nguyễn Văn H, sinh năm 1973 tại T2 Hóa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú ấp 4, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn D (đã chết) và bà Trịnh Thị H (đã chết); bị cáo có vợ là chị Hà Thị M, sinh năm 1979 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2019 đến ngày 12/7/2019 được tại ngoại “có mặt”.

5. Lê TT2, sinh năm 1994 tại T2 Hóa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú khu phố 5, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Thợ thạch cao; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê TH, sinh năm 1959 và bà Phan Thị N, sinh năm 1965; bị cáo có vợ là chị Dương Thị Q, sinh năm 1996 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2019 đến ngày 12/7/2019 được tại ngoại “có mặt”.

6. Nguyễn Văn H1, sinh năm 1988 tại T2 Hóa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú ấp 4, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Cạo mủ; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Hà Thị T (đã chết); bị cáo có vợ là chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1991 và 01 người con, sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2019 đến ngày 12/7/2019 được tại ngoại “có mặt”.

Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo, không bị Viện kiểm sát kháng nghị và không liên quan đến nội dung kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ ngày 06/7/2019, Lê Đình T cùng Nguyễn Văn T1, Nguyễn Hải C, Lê TT2, Nguyễn Văn H1 ngồi uống cà phê tại quá cà phê “24H” thuộc phường T, T1phố Đ. Trong lúc uống cà phê, T1 rủ tất cả đến nhà T chơi đánh bài thì mọi người đồng ý. Do lúc này T bận công việc nên nói mọi người đến nhà của T trước còn T sẽ về sau. Do vậy T2, T1, C và H1 đi đến nhà của T tại khu phố 5, phường Tiến T1, T1phố Đ để chơi đánh bạc. Trên đường đi về nhà của T thì gặp Nguyễn Văn H cũng đến để chơi đánh bạc cùng. Sau khi về đến nhà của T thì T2, T1, H và C cùng rủ nhau đi vào căn phòng ngủ dành cho khách ở trong nhà của T để chơi đánh bạc. Khi vào phòng đã có sẵn bài và chiếu dưới nền nhà nên T2, T1, H và C cùng nhau chơi bài “Phỏm” thắng thua bằng tiền, còn H1ngồi xem. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, T đi công việc về thấy nhưng chưa vào tham gia chơi. Đến khoảng 12 giờ, H1rủ mọi người chuyển qua chơi bài “Liêng” để T và H1cùng tham gia thì tất cả đồng ý và quy ước chơi với số tiền cược mỗi ván là 100.000 đồng, tiền tố từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Công an thành phố Đ kết hợp với Công an phường T kiểm tra phát hiện và bắt quả tang T, T2, T1, H1, C và H đang đánh bạc tại nhà của T. Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 22.200.000 đồng, 05 bộ bài tây, 01 chiếc chiếu màu đỏ trắng. Trong khi lực lượng chức năng tiến hành bắt quả tang, T1 đã bỏ chạy được và đến ngày 10/7/2019 ra đầu thú tại Công an thành phố Đ.

Về hình thức, quy ước và cách chơi bài “Liêng” như sau: Vi một bộ bài tây 52 lá, người làm cái (làm cái xoay vòng) sẽ chia lần lượt cho mình và những người chơi khác, mỗi người 3 lá, số lượng người chơi từ 02 đến 06 người. Sau khi chia bài thì mỗi người sẽ đặt ra tiền cược là 100.000 đồng (tùy theo quy ước mỗi khi chơi). Sau đó người chơi sẽ xem bài, nếu người chơi thấy bài của mình lớn nhất hoặc “đánh lừa” được người khác thì sẽ tố thêm tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng (tùy theo quy ước khi chơi), còn ai không tố theo thì úp bài chịu thua tiền đã đặt cược. Sau đó những người tham gia tố sẽ mở bài ra để so bài, nếu ai lớn nhất sẽ thắng, còn bài ai hòa nhau thì sẽ chia số tiền cược và tiền tố.

Cách tính thắng thua như sau: Lớn nhất là “sáp” nghĩa là 03 lá bài giống nhau; tiếp đến là “liêng” nghĩa là 03 lá bài liên tiếp nhau (không tính chất); tiếp đến là “ảnh” nghĩa là 03 lá bài có con hình. Nếu không có các loại bài trên thì sẽ tính điểm, ngưi chơi sẽ cộng điểm trên 03 lá bài lại, chỉ lấy phần đơn vị, nhỏ nhất là 00 điểm, lớn nhất là 09 điểm. Số điểm trên mỗi lá bài quy định như sau: Con A và từ con bài 02 đến con bài 09 tương đương từ 01 đến 09 điểm, các lá bài còn lại tính 10 điểm.

Số tiền đánh bạc của các bị cáo như sau: Lê Đình T sử dụng số tiền 5.390.000 đồng để tham gia chơi đánh bạc, tại thời điểm bắt quả tang thu giữ trên người bị cáo số tiền 2.390.000 đồng. Nguyễn Văn H1 sử dụng số tiền 6.200.000 đồng để tham gia chơi đánh bạc, tại thời điểm bắt quả tang trên người bị cáo không có tiền. Nguyễn Văn H sử dụng số tiền 4.800.000 đồng để tham gia chơi đánh bạc, tại thời điểm bắt quả tang thu giữ trên người bị cáo số tiền 4.300.000 đồng. Lê Tuấn T2 sử dụng số tiền 1.800.000 đồng để tham gia chơi đánh bạc, tại thời điểm bắt quả tang thu giữ trên người bị cáo số tiền 7.100.000 đồng. Nguyễn Hải C sử dụng số tiền 6.500.000 đồng để tham gia chơi đánh bạc, tại thời điểm bắt quả tang thu giữ trên người bị cáo số tiền 50.000 đồng. Đối với Nguyễn Văn T1 sử dụng số tiền 4.000.000 đồng để tham gia chơi đánh bạc, tại thời điểm bắt quả tang thì bị cáo để lại số tiền dùng để đánh bạc dưới chiếu bạc và bỏ trốn.

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã thu giữ:

- Thu giữ trên chiếu bạc 05 bộ bài tây đã qua sử dụng; 01 chiếc chiếu cói màu đỏ trắng đã qua sử dụng kích thước 1,4mx1,8m và số tiền 22.200.000 đồng.

- Thu giữ của bị cáo Lê Đình T số tiền 2.390.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Samsung.

- Thu giữ của bị cáo Nguyễn Hải C số tiền 50.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Oppo.

- Thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn H số tiền 4.300.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Samsung và 01 xe mô tô hiệu Honda Dream màu nho biển số 93P1-609.99.

- Thu giữ của bị cáo Lê Tuấn T2 số tiền 7.100.000 đồng, 01 điện thoại Iphone và 01 xe mô tô Yamaha Exciter màu xanh biển số 36B3-357.94.

- Thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn H1 01 điện thoại di động hiệu Samsung.

- Thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T1 01 xe Honda Wave màu đen biển số:

93T1- 9692.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã ra quyết định xử lý vật chứng: Trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển số 93P1-609.99 cho chủ sở H1 hợp pháp là anh Nguyễn Văn Hào; trả lại xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 36B3-357.94 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Lê Tuấn Anh; trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 93T1- 9692 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Lê Như N và trả lại cho bị cáo Lê Tuấn T2 số tiền 7.100.000 đồng.

Ngoài lần đánh bạc trên thì Lê Đình T cùng Nguyễn Hải C, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn H và Lê Tuấn T2 còn tham gia đánh bạc bằng hình thức chơi “Phỏm”, bộ bài tây 52 lá chia cho 4 người chơi, mỗi người 9 lá bài, người chia 10 lá đánh trước theo vòng từ trái sang phải, khi đánh xuống người kế bên trúng thì ăn và đánh tiếp cho đến khi hết bài ở dưới. Cách tính thắng thua như sau. Người có bộ cùng chất liên tiếp nhau, hoặc 3 cây, 4 cây cùng con bài, không có bộ, không có con bài cùng nhau thì gọi là cháy. Cách tính điểm, thắng nhất là người có ít điểm nhất của các lá bài lẻ trên tay, kế tiếp là thua nhì, thua ba, thua bét và cháy. Có bộ hết tức là chỉ còn 1 lá bài hoặc không có lá bài nào là ù. Cách tính tiền như sau: Ù ăn hết các nhà còn lại mỗi người 50.000 đồng, thắng nhất ăn thua nhì 10.000 đồng, thua ba 20.000 đồng, thua bét 30.000 đồng, cháy 40.000 đồng, ai để bị ăn ba cây thì phải đền mỗi nhà 50.000 đồng và bị phạt con chốt 40.000 đồng, cụ thể như sau:

Lần 1: Cách ngày bị bắt quả tang khoảng 1 tuần, T cùng C, H, T1, T2 cùng nhau chơi đánh bạc, T2 chơi được một lúc thì nghỉ rồi T1vào thay chơi bài “Phỏm” thắng thua bằng tiền tại nhà của T. Lần này T sử dụng 3.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc thắng khoảng 1.700.000 đồng; T1 sử dụng 1.400.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc không thắng, không thua; C sử dụng 1.500.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc bị thua hết; H sử dụng 2.600.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc thắng khoảng 700.000 đồng; T2 sử dụng 1.700.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc không thua, không thắng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc của các bị cáo là: 10.200.000 đồng. Lần đánh bạc này T1 là người khởi xướng.

Lần 2: Cách ngày bị bắt quả tang khoảng 2 tuần, T cùng C, H, T1, T2 chơi đánh bạc, T1chơi khoảng 01 giờ thì nghỉ, T2 vào thay chỗ của T1, chơi bài “Phỏm” thắng thua bằng tiền tại nhà của T. Lần này T sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc thua khoảng 1.200.000 đồng; T1 sử dụng 700.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc thắng khoảng 400.000 đồng; C sử dụng 1.300.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc bị thua hết; H sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc thua khoảng 300.000 đồng; T2 sử dụng 1.300.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc thắng khoảng 300.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc của các bị cáo là: 7.300.000 đồng. Lần đánh bạc này T là người khởi xướng.

Lần 3: Cách ngày bị bắt quả tang khoảng 3 tuần, T cùng C, T1 và H chơi bài “Phỏm” thắng thua bằng tiền tại tại nhà của T. Lần này T sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc thua khoảng 500.000 đồng; T1 sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc thắng khoảng 150.000 đồng; C sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc thua khoảng 1.000.000 đồng; H sử dụng 1.500.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc thua khoảng 200.000 đồng; Tổng số tiền dùng để đánh bạc của các bị cáo là: 6.500.000 đồng. Lần đánh bạc này không rõ ai là người khởi xướng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2020/HS-ST ngày 17/02/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Bình Phước đã tuyên xử: Lê Đình T, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Hải C, Nguyễn Văn H, Lê Tuấn T2 và Nguyễn Văn H1 về tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đình T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo thi hành án, bị cáo được khấu trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2019 đến ngày 12/7/2019.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hải C 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo thi hành án, bị cáo được khấu trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2019 đến ngày 12/7/2019.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52;

Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo thi hành án, bị cáo được khấu trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2019 đến ngày 12/7/2019.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Tuấn T2 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo thi hành án, bị cáo được khấu trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2019 đến ngày 12/7/2019.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo thi hành án, bị cáo được khấu trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2019 đến ngày 12/7/2019.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về vật chứng vụ án, án phí và quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Ngày 24/02/2020 các bị cáo Lê Đình T, Nguyễn Văn H, Lê Tuấn T2, Nguyễn Hải C, Nguyễn Văn T1 kháng cáo xin hưởng án treo.

Ngày 25/02/2020 bị cáo Nguyễn Văn H1 kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa: Các bị cáo chỉ thừa nhận hành vi phạm tội vào ngày 06/7/2019 theo biên bản bắt quả tang của Công an thành phố Đ; các bị cáo T, T1, C, H, T2 không thừa nhận hành vi phạm tội của các lần trước ngày bị bắt quả tang theo như bản án sơ thẩm đã xác định. Các bị cáo cho rằng trước đây tại Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ các điều tra viên bắt buộc các bị cáo khai cho phù hợp với nhau, thật sự các bị cáo không tham gia đánh bạc vào các ngày trước khi bị bắt quả tang theo như bản án quy kết.

Các bị cáo Lê Đình T, Nguyễn Văn H, Lê Tuấn T2, Nguyễn Hải C, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn H1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên không chấp nhận kháng cáo về việc xin được hưởng án treo của các bị cáo, giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số 10/2020/HS-ST ngày 17 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Đồng thời không áp dụng điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cho các bị cáo Lê Đình T, Nguyễn Văn H, Lê Tuấn T2, Nguyễn Hải C, Nguyễn Văn T1 được hưởng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Đơn kháng cáo của các bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại các Điều 331, 332 và 333 BLTTHS nên đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2].Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo T, T1, C, H, T2 chỉ thừa nhận hành vi phạm tội vào ngày 06/7/2019 theo biên bản bắt quả tang của Công an thành phố Đ; các bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của các lần trước ngày bị bắt quả tang theo như bản án sơ thẩm đã xác định. Các bị cáo cho rằng trước đây tại Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ các Điều tra viên bắt buộc các bị cáo khai cho phù hợp với nhau, thật sự các bị cáo không tham gia đánh bạc vào các ngày trước khi bị bắt quả tang theo như bản án quy kết.

[3]. Hội đồng xét xử xét các lời trình bày nêu trên của các bị cáo là không có cơ sở để chấp nhận, bởi lẽ: Quá trình điều tra, xét xử tại cấp sơ thẩm các bị cáo đều thừa nhận trước ngày bị bắt quả tang các bị cáo T, T1, C, T2 và H còn nhiều lần thực hiện hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền tại nhà của Lê Đình T với tổng số tiền là 24.000.000 đồng. Việc các bị cáo cho rằng trong quá trình điều tra các bị cáo bị Điều tra viên bắt buộc khai cho phù hợp với các bị cáo khác nhưng các bị cáo khai là tự nguyện, biên bản lời khai được các Điều tra viên, Kiểm sát viên đọc lại cho các bị cáo nghe trước khi các bị cáo đồng ý ký tên vào biên bản, đồng thời các bị cáo được đối chất với nhau về những nội dung đã khai nhận và thừa nhận tại phiên tòa sơ thẩm về những nội dung đã khai trước đó. Ngoài ý kiến trình bày nêu trên của các bị cáo không có tài liệu, chứng cứ khác hoặc người làm chứng chứng kiến sự việc nên không có căn cứ để đối chiếu, chứng minh. Vì vậy, các bị cáo cho rằng không có tham gia đánh bạc các lần trước đó là không có căn cứ.

[4]. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết luận điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ tài sản và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 06/7/2019, Lê Đình T cùng Nguyễn Văn T1, Nguyễn Hải C, Lê Tuấn T2, Nguyễn Văn H1 và Nguyễn Văn H thực hiện hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền với tổng số tiền 28.690.000 đồng tại nhà của Lê Đình T thuộc khu phố 5, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước thì bị bắt quả tang. Ngoài ra trước ngày bị bắt quả tang bị cáo T, bị cáo T1, bị cáo Ch, bị cáo H còn tham gia 3 lần đánh bạc khác, bị cáo T2 tham gia 02 lần đánh bạc khác với số tiền là 24.000.000 đồng.

Trong vụ án Nguyễn Văn T1 là người khởi xướng lần bắt quả tang và lần thứ nhất; Lê Đình T là người khởi xướng lần 2, đồng thời là người thực hành. Còn bị cáo C, T2, H và H1đồng phạm với vai trò là người thực hành. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây là vụ án có đồng phạm và tuyên bố các bị cáo Lê Đình T, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Hải C, Lê Tuấn T2, Nguyễn Văn H1 và Nguyễn Văn H phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự (BLHS); đối với các bị cáo Lê Đình T, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Hải C, Lê Tuấn T2 và Nguyễn Văn H có tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[5] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ như:

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo T1khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo H1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo T1 sau khi phạm tội đã ra đầu thú, bị cáo T gia đình có công với cách mạng, có hoàn cảnh gia đình khó khăn có 01 người con nhỏ; bị cáo T2 có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có 02 con nhỏ. Do đó bị cáo C, H được xem xét các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS; bị cáo T, T1, T2 được xem xét các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Các bị cáo T, T1, C, H đã thực hiện hành vi đánh bạc nhiều lần, phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội hai lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS. Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo cũng như vai trò đồng phạm của từng bị cáo nêu trên và xử phạt các bị cáo Lê Đình T, Nguyễn Văn T1 01 (một) năm tù; Nguyễn Hải C, Nguyễn Văn H, Lê Tuấn T2 09 (chín) tháng tù; bị cáo Nguyễn Văn H1 06 (sáu) tháng tù là có căn cứ theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo H cung cấp thêm chứng cứ bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình (có xác nhận của địa phương); bị cáo C cung cấp Huân chương kháng chiến của ông Nguyễn Đình T1và bà Lưu Thị B, đây cũng chỉ là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, không làm thay đổi căn bản những tình tiết giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo T, T1, T2, C, H. Do vậy, kháng cáo của các bị cáo T, T1, T2, C, H không được Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo.

Riêng đối với bị cáo Nguyễn Văn H1: Bị cáo H1chỉ tham gia đánh bạc 01 lần và bị bắt quả tang; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là có phần nặng, chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo H1 xuất trình đơn xác nhận gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn và bị cáo là lao động chính trong gia đình, nội dung trên được chính quyền địa phương xác nhận, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo hiện có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự sửa chữa bản thân. Xét không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú, giám sát, giáo dục là đủ sức răn đe đối với bị cáo. Vì vậy kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn H1 là có căn cứ nên được chấp nhận, sửa một phần Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo H1.

[6] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước: Phù hợp một phần với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

[7] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của các bị cáo Lê Đình T, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Hải C, Lê Tuấn T2, Nguyễn Văn H không được Hội đồng xét xử chấp nhận nên phải chịu theo quy định pháp luật.

Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H1 được Hội đồng xét xử chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Đình T, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Hải C, Lê Tuấn T2, Nguyễn Văn H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2020/HS-ST ngày 17/02/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Bình Phước về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo Lê Đình T, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Hải C, Lê Tuấn T2, Nguyễn Văn H1 và Nguyễn Văn H.

Tuyên bố các bị cáo Lê Đình T, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Hải C, Lê Tuấn T2 và Nguyễn Văn H phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đình T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo thi hành án, bị cáo được khấu trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2019 đến ngày 12/7/2019.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hải C 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo thi hành án, bị cáo được khấu trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2019 đến ngày 12/7/2019.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52;

Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo thi hành án, bị cáo được khấu trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2019 đến ngày 12/7/2019.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Tuấn T2 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo thi hành án, bị cáo được khấu trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2019 đến ngày 12/7/2019.

[2] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H1. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2020/HS-ST ngày 17/02/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Bình Phước về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn H1.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H1 phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 và Điều 65 Bô luât hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày 01/6/2020 (ngày tuyên án phúc thẩm). iao bị cáo Nguyễn Văn H1 cho y ban nhân dân xã Tiến Hưng, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. ia đình bị cáo H1có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã T, thành phố Đ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

[3] Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Lê Đình T, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Hải C, Lê Tuấn T2, Nguyễn Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo Nguyễn Văn H1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2020/HS-ST ngày 17/02/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Bình Phước không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


21
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 41/2020/HS-PT ngày 01/06/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:41/2020/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Bình Phước
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 01/06/2020
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về