Bản án 41/2020/HNGĐ-ST ngày 15/10/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

BẢN ÁN 41/2020/HNGĐ-ST NGÀY 15/10/2020 VỀ LY HÔN 

Ngày 15 tháng 10 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 257/2020/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2020 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2020/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Trần Thái Ng, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Số A, ấp B, xã C, huyện D, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Chị Đoàn Thị Thanh H, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Tổ A, thôn B, xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

(Anh Ng, Chị H vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn, anh Trần Thái Ng trình bày: Sau khi tìm hiểu nhau được khoảng 01 năm thì anh Ng và chị Đoàn Thị Thanh H mới đi đến hôn nhân. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn ngày 25 tháng 3 năm 2009 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã C, huyện D, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống chung với gia đình anh Ng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, kinh tế gia đình khó khăn nên vợ chồng thường xuyên cãi vả nhau, không còn sự quan tâm, chia sẽ trong cuộc sống. Đến giữa năm 2014 thì chị H nói đi làm ăn xa để kiếm tiền. Thời gian đầu thì chị H thỉnh thoảng còn về nhà thăm con nhưng sau đó thì không về nữa. Từ đó, vợ chồng cũng không liên lạc cho đến nay. Nay, anh Ng yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về hôn nhân: Anh Ng xin được ly hôn với chị H.

Về nuôi con chung: Anh Ng và chị H có 01 người con chung là Trần Thị Kim Oanh, sinh ngày 03 tháng 02 năm 2009, anh Ng có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết Đối với chị Đoàn Thị Thanh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do vì vậy không lấy lời khai và tiến hành hòa giải được.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn không thực hiện đúng phần quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

Về nuôi con chung: Giao con chung cho anh Ng được quyền nuôi dưỡng; chị H không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Anh Ng không yêu cầu nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Anh Ng và chị H sống chung với nhau có đăng ký kết hôn nay Anh Ng yêu cầu ly hôn nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Nơi cư trú của Chị H là xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nên Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh Ng vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai (không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan) nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Ng và chị H trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào 25 tháng 3 năm 2009 tại UBND xã C, huyện D, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Theo anh Ng nguyên nhân do kinh tế gia đình khó khăn nhưng giữa vợ chồng lại không có sự chia sẽ, cảm thông nên thường xuyên xảy ra cãi vã dần dần tình cảm cũng không còn. Từ năm 2014 thì vợ chồng ly thân cho đến nay. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của anh Ng, Tòa án đã triệu tập chị H để làm việc và hoà giải về quan hệ hôn nhân nhưng chị H vẫn không đến. Ngoài ra, theo kết quả xác minh tại địa phương thì mâu thuẫn giữa anh Ng và chị H là có thật, từ giữa năm 2014 cho đến nay thì anh Ng và chị H không còn sống chung. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa anh Ng và chị H ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho anh Ng được ly hôn với chị H.

[2.2] Về nuôi con chung: Xét thấy, từ khi anh Ng và chị H ly thân thì con chung là Trần Thị Kim O, sinh ngày 03 tháng 02 năm 2009 do anh Ng trực tiếp nuôi dưỡng; hiện cháu O đã đủ 07 tuổi, có nguyện vọng xin được sống với cha nên cần áp dụng khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung cho anh Ng tiếp tục nuôi dưỡng; ghi nhận sự tự nguyện của anh Ng không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3] Về chia tài sản chung, nợ chung: Anh Ng không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí: Anh Ng phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (DSST) đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

1.Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Trần Thái Ng và chị Đoàn Thị Thanh H.

2.Về nuôi con chung: Anh Trần Thái Ng và chị Đoàn Thị Thanh H có 01 người con chung là Trần Thị Kim O, sinh ngày 03 tháng 02 năm 2009;

Giao con chung Trần Thị Kim O, sinh ngày 03 tháng 02 năm 2009 cho anh Trần Thái Ng trực tiếp nuôi dưỡng; ghi nhận sự tự nguyện của anh Trần Thái Ng không yêu cầu chị Đoàn Thị Thanh H cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Đoàn Thị Thanh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng không ai được quyền cản trở.

Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3.Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4.Về án phí: Anh Trần Thái Ng phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí DSST đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) mà anh Ng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số TU/2020/0004718 ngày 26 tháng 6 năm 2020; anh Trần Thái Ng đã nộp xong án phí DSST đối với yêu cầu ly hôn.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 41/2020/HNGĐ-ST ngày 15/10/2020 về ly hôn

Số hiệu:41/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Đức - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:15/10/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về