Bản án 41/2019/HNGĐ-ST ngày 17/09/2019 về ly hôn và nuôi con

A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 41/2019/HNGĐ-ST NGÀY 17/09/2019 VỀ LY HÔN VÀ NUÔI CON

Ngày 17 tháng 9 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 116/2019/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2019 về ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/8/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Danh Mỹ N, sinh năm: 1984; địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).

- Bị đơn: Anh Dương Sa M, sinh năm 1978; địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Ti đơn khởi kiện đề ngày 15/5/2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Danh Mỹ N trình bày:

- Về hôn nhân: Vào năm 2007 chị N và anh Sa M được gia đình 2 bên thống nhất tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Bình Bắc. Chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi nhau, cuộc sống gia đình không hạnh phúc nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2017. Nay xét thấy vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, tình cảm không còn nên không thể tiếp tục chung sống vì vậy chị N xin được ly hôn với anh Sa M.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng chị có được 02 đứa con chung tên là Dương Thành L sinh ngày 15/4/2009 (Hiện cháu L đang sống chung với chị N) và Dương Thành L1, sinh ngày 13/8/2013 (Hiện nay cháu L1 đang sống chung với anh Sa M). Khi ly hôn chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu L không yêu cầu anh Sa M phải cấp dưỡng nuôi con, giao cháu Dương Thành L1 cho anh Sa M tiếp tục nuôi dưỡng, chị N không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị N xác định trong thời gian chung sống vợ chồng không có tài sản chung và không thiếu nợ ai.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Dương Sa M để anh trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị N cũng như tham gia các phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng anh Sa M không nộp bản tự khai cho Tòa án, cố tình trốn tránh, vắng mặt không rõ lý do.

Ti phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Quá trình thụ lý vụ án, chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, đúng tư cách tham gia tố tụng, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, tiến hành thu thập chứng cứ đúng trình tự, thủ tục. Nguyên đơn chấp hành tốt các quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định; tuy nhiên bị đơn vi phạm những quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự, vắng mặt tại phiên tòa không lý do mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Sa M là đúng quy định. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị N được ly hôn với anh M. Về con chung, đề nghị giao cháu Dương Thành L cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Dương Thành L1 cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng anh M, chị N không phải cấp dưỡng nuôi con do không có yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung: không có, đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Dương Sa M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Xét thấy, sự vắng mặt của anh M không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh M.

Nguyên đơn chị N yêu cầu ly hôn với bị đơn anh M và có yêu cầu nuôi con chung. Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “ly hôn , tranh chấp nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện nên Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận thụ lý giải quyết là phù hợp.

Do Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ nên đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm là phù hợp với quy định tại Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh M xác lập quan hệ hôn nhân năm 2007, anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Bình Bắc, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định của pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp.

Tuy nhiên, trong quá trình chung sống anh chị đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, anh chị đã tự hòa giải nhưng vẫn không thể hàn gắn và anh chị đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Nay chị N cương quyết yêu cầu ly hôn nhưng anh M không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình, không có văn bản thể hiện ý kiến gì để Tòa án xem xét, cố tình vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Mặt khác, anh chị đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị đã trầm trọng, cuộc sống chung không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đươc. Do đó áp dụng Điều 56 (Ly hôn theo yêu cầu của một bên) của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho chị N được ly hôn với anh M.

[2.2] Về con chung: Theo lời trình bày của chị N và theo giấy khai sinh có cơ sở xác định trong thời gian chung sống, anh M và chị N có 02 người con chung tên Dương Thành L, giới tính nam, sinh ngày 15 tháng 4 năm 2009 hiện cháu L đang sống chung với chị N và Dương Thành L1 sinh ngày 13 tháng 8 năm 2013 hiện nay cháu L1 đang sống chung với anh M, chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu L không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con, giao cháu L1 cho anh M tiếp tục nuôi dưỡng chị N không phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy từ khi vợ chồng ly thân đến nay chị N là người trực tiếp nuôi cháu L, anh M trực tiếp nuôi cháu L1 cuộc sống của con được đảm bảo, có chính quyền địa phương xác nhận nên chị N đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng con và cũng phù hợp theo nguyện vọng của cháu L1. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 81 (quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn) của Luật hôn nhân và gia đình 2014, giao cháu Dương Thành L, giới tính nam, sinh ngày 15 tháng 4 năm 2009 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Dương Thành L1 giới tính nam, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2013 cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng. Anh M, chị N được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn: Chị N, anh M không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị N xác định không có tài sản chung và nợ chung không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ, nguyên đơn chị Danh Mỹ N chịu toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tun xử:

1 - Về hôn nhân: Chị Danh Mỹ N được ly hôn với anh Dương Sa M.

2 - Về con chung: Giao cháu Dương Thành L, giới tính nam, sinh ngày 15 tháng 4 năm 2009 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Dương Thành L1 giới tính nam, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2013 cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng. Anh M, chị N được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Anh M, chị N không phải cấp dưỡng nuôi con (Trừ trường hợp có yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật).

3 - Về tài sản chung nợ chung: Không có tài sản chung và nợ chung không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

4 - Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Danh Mỹ N chịu 300.000đồng tiền án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu số 0000244 ngày 17/7/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận.

5 - Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17/9/2019); bị đơn anh Dương Sa M vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


5
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 41/2019/HNGĐ-ST ngày 17/09/2019 về ly hôn và nuôi con

Số hiệu:41/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vĩnh Thuận - Kiên Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 17/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về