Bản án 41/2019/HNGĐ-ST ngày 17/05/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 41/2019/HNGĐ-ST NGÀY 17/05/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 17 tháng 5 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 46/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2019 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2019/QĐXX-ST ngày 04 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ngọc L, sinh năm 1989 (có yêu xin vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn TT, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

2. Bị đơn: Anh Phạm Văn H, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp B, xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Tại đơn khởi kiện ngày 02/12/2018 cũng như tại phiên tòa chị Lê Thị Ngọc L trình bày:

Chị L và anh H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 11/4/2017. Thời gian chung sống vợ chồng không hạnh phúc, anh H không lo làm ăn nên vợ chồng thường hay cãi nhau làm phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ tháng 10/2018 đến nay. Xét thấy không thể tiếp tục chung sống nữa nên chị L yêu cầu ly hôn với anh H.

Con chung tên Phạm Đăng K, sinh ngày 21/4/2017 hiện con chung do chi L nuôi dạy. Khi ly hôn chị L yêu cầu tiếp tục nuôi dạy con chung nhưng không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án đã tuân thủ đúng theo quy định.

Về nội dung: Tại hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa thể hiện chị L và anh H chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn là tuân thủ đúng quy định pháp luật. Trong quá trình chung sống do phát sinh mâu thuẩn không hàn gắn được nên chị L và anh H ly thân tư tháng 10/2018 đến nay. Do đó, áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho chị L và anh H được ly hôn. Con chung do chị L nuôi dạy nên cần cần tiếp tục giao chị L nuôi dạy, chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên không đề nghị xem xét; tài sản chung và nợ chung không có nên không đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Lê Thị Ngọc L khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là anh Phạm Văn H nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; Anh H có địa chỉ tại ấp A, xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của chị L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và có tống đạt hợp lệ cho anh H nhưng anh H không có ý kiến bằng văn bản và vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử và có tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng này cho anh H nhưng anh H vắng mặt tại các lần xét xử không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh H theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng chị L có đơn yêu cầu xin vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị L theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

[3] Về hôn nhân: Chị Lê Thị Ngọc L và anh Phạm Văn H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 11/4/2017. Tại đơn khởi kiện chị L cho rằng thời gian chung sống giữa anh chị xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, hôn nhân không hạnh phúc nên chị L yêu cầu ly hôn với anh H. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Thời gian chung sống do bất đồng quan điểm, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân giữa chị L và anh H không đạt được nên anh chị đã ly thân từ tháng 10/2018 đến nay mà không có thiện chí đoàn tụ. Xét thấy, tại xác nhận ngày 13/02/2019 của Công an thị trấn TT, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xác nhận thời gian chung sống vợ chồng chị L và ah H chung sống tại địa phương có xảy ra mâu thuẫn và chị L có báo đến Công an thị trấn TT. Do cuôc sống hôn nhân của chị L và anh H không còn hạnh phúc, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho chị Lê Thị Ngọc L và anh Phạm Văn H được ly hôn là phù hợp.

[4] Về con chung: Thời gian chung sống, chị L và anh H có 01 người con chung tên Phạm Đăng K, sinh ngày 21/4/2017. Xét thấy, cháu K hiện đang sống cùng chị L nên việc hoán đổi nuôi con sẽ ảnh hưởng đến tình cảm của cháu K. Hơn nữa, cháu K còn nhỏ, dưới 36 thang tuổi nên việc chị L yêu cầu cần tiếp tục nuôi dạy phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Vì Vậy cần tiếp tục giao con chung tên Phạm Đăng K cho chị Lê Thị Ngọc L tiếp tục nuôi dạy là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82 và 83 luật Hôn nhân và gia đình.

Chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.

[5] Về tài sản chung: Chị L xác định thời gian chung sống anh chị không có tài sản chung nên không xét yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về nợ chung: Chị L xác định không có nợ chung, vợ chồng không có nợ người ngoài và người ngoài cũng không nợ vợ chồng nên không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị Ngọc L phải chịu án phí – Theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 56, 81, 82, 83 của luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Lê T hị Ngọc L và anh Phạm Văn H được ly hôn.

2. Về con chung: Giao con chung tên Phạm Đăng K, sinh ngày 21/4/2017 (giới tính nam) cho Chị Lê Thị Ngọc L tiếp tục nuôi dạy. Anh Phạm Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh H không trực tiếp nuôi dạy con chung nhưng anh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

3. Tài sản chung và nợ chung: Không có.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị Ngọc L phải nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 12 tháng 02 năm 2019 chị L có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0005926 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.

5. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng chị L và anh H vắng mặt nên có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định.


67
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 41/2019/HNGĐ-ST ngày 17/05/2019 về ly hôn

Số hiệu:41/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thới Bình - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:17/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về