Bản án 41/2019/HNGĐ-ST ngày 14/06/2019 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 41/2019/HNGĐ-ST NGÀY 14/06/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 14/6/2019 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố TN xét xử sơ thẩm, công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm, thụ lý số: 72/2019/TLST-HNGĐ ngày 17/01/2019 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/QĐST-HNGĐ ngày 19/4/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Thùy D, sinh năm 1985

Địa chỉ: Tổ 3, phường TĐ, thành phố TN

(Có mặt tại phiên tòa)

Bị đơn: Anh Hà Ngọc S, sinh năm 1982

Địa chỉ: Xóm NH, xã TC, thành phố TN

(Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai tại phiên toà chị D trình bày: Chị kết hôn cùng anh Hà Ngọc S năm 2007, có đăng ký tại UBND phường TĐ, thành phố TN trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn sau đó phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường hay cãi nhau, thậm trí mâu thuẫn cả hai bên thông gia điều qua tiếng lại, không nhìn mặt nhau. Hiện anh chị đang sống ly thân. Đến nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, xin được ly hôn với anh S để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung Hà Ngọc Trúc L, sinh ngày 14/6/2008; Hà Ngọc Thanh M, sinh ngày 10/8/2014, hiện các con đang được chị trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định không có.

Do anh S không hợp tác, Tòa án xác minh tại địa phương được biết hiện anh S đã bỏ nhà đi khỏi địa phương thi thoảng lại về rồi lại đi ngay. Tòa án đã làm thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Do anh S không viết bản tự khai cũng như không tham gia phiên họp công bố tài liệu công khai chứng cứ và hòa giải, do vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được, vì vậy vụ kiện phải đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa ngày hôm nay.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Việc tiếp nhận đơn của Tòa án, việc thụ lý đơn khởi kiện và quá trình giải quyết của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng.

Về nội dung: Chấp nhận đơn ly hôn của chị Hồ Thị Thùy D, cho chị D được ly hôn với anh Hà Ngọc S. Về con chung giao con cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không giải quyết. Về án phí chị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Tòa án đã niêm yết giấy triệu tập phiên tòa lần thứ hai nhưng anh Sơn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh S

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Thùy D và anh Hà Ngọc S kết hôn đủ điều kiện được công nhận hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do bất đồng quan điểm sống nên đổ vỡ về tình cảm, chị D không chấp nhận người chồng, người cha như vậy nữa, nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, xin được ly hôn. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân cũng không mang lại hạnh phúc, vì vậy chấp nhận đơn ly hôn của chị Hồ Thị Thùy D cho chị D được ly hôn với anh Hà Ngọc S như vậy là phù hợp với thực tế và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3]. Về con chung: Vợ chồng có hai con chung Hà Ngọc Trúc L, sinh ngày 14/6/2008; Hà Ngọc Thanh M, sinh ngày 10/8/2014. Khi ly hôn giao cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng như vậy là phù hợp với thực tế và Điều 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.

[4]. Về tài sản chung và nợ chung: Do không có lời khai của anh S, nên Tòa án không giải quyết.

[5]. Về án phí: Chị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015; Điều 28, 35, 146, 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án có hiệu lực thi hành từ ngày 01.01.2017.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Hồ Thị Thùy D, cho chị D được ly hôn anh Hà Ngọc S.

2. Về con chung: Giao cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng hai con Hà Ngọc Trúc L, sinh ngày 14/6/2008; Hà Ngọc Thanh M, sinh ngày 10/8/2014 đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh S có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí: Chị D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước, được chuyển từ tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0007263 ngày 17/01/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TN.

Báo cho các đương sự biết trong hạn 15 ngày, chị D được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày tuyên án; Đối với anh S kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án tại địa phương.


48
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 41/2019/HNGĐ-ST ngày 14/06/2019 về ly hôn

Số hiệu:41/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thái Nguyên - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:14/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về