Bản án 41/2018/HS-ST ngày 25/07/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

BẢN ÁN 41/2018/HS-ST NGÀY 25/07/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 25 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2018/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2018/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

Phạm L (Tên gọi khác: T), sinh ngày: 01/02/1991 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Tổ 2, phường T, thị xã A, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Làm lốp ô tô; trình độ văn hoá: Lớp 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm T; sinh năm: 1971, con bà: Nguyễn Thị H; sinh năm: 1970; có vợ là Nguyễn Thị Thu D, sinh năm 1991 và có 01 con; tiền án: có 01 tiền án (Bản án số: 62/2017/HSST ngày 24/11/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, xử phạt 06 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”); tiền sự: không; nhân thân: Ngày 22/12/2007, bị Toà án nhân dân huyện Hương Thủy (Nay là thị xã Hương Thủy) xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm, về tội: “Cố ý gây thương tích” (Bản án số: 24/2007/HSST ngày 22/12/2007); ngày 24/11/2017, bị Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy xử phạt 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số:62/2017/HSST ngày 24/11/2017), ngày 28/02/2018 bị cáo chấp hành xong hình phạt và trở về địa phương sinh sống cho đến ngày phạm tội (ngày 31/3/2018). Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/4/2018, tạm giam từ ngày 07/4/2018 cho đến nay. Cómặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Duy V sinh năm 1984; nơi cư trú: Tổ 2, phường T, thị xã A, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1969; nơi cư trú: Số 233 đường N, tổ 5, phường T, thị xã A, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

2. Ông Phạm T sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1970; cùng trú tại: Tổ 2, phường T, thị xã A, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông T, bà H đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 31/3/2018, Phạm L đi bộ ngang qua nhà anh Nguyễn Duy V, sinh năm 1984, ở tại tổ 2, phường T, thị xã A, tỉnh Thừa Thiên Huế phát hiện có sơ hở nên L nảy sinh ý định đột nhập nhà anh V để lấy trộm tài sản. L đi đến cửa sau nhà dùng tay giật mạnh làm bung chốt cửa, rồi đi lên khu vực phòng khách mở cửa tủ gỗ lấy trộm 01 túi xách màu đen bên trong có 01 máy tính xách tay hiệu Toshiba A205-S6808, 01 ví da bên trong có số tiền 500.000 đồng, 18 đô la Mỹ và một số giấy tờ tuỳ thân của anh V. Sau khi lấy trộm được tài sản, L đưa về nhà cất giấu; đến 19 giờ cùng ngày L đưa máy tính xách tay đến hiệu cầm đồ “Đ L 2” của anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1969, ở tại số 233 đường N, tổ 5, phường T, thị xã A cầm cố với số tiền 200.000đ để tiêu xài cá nhân.

Vật chứng Cơ quan điều tra thu giữ:

- 01 máy tính xách tay hiệu Toshiba A205-S6808.

- 01 ví da, 01 túi xách đựng máy tính xách tay.

- 01 hợp đồng cầm cố tài sản.

- 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy đăng ký xe mô tô, 01 giấy phép lái xe mô tô, 01 thẻ ATM mang tên Nguyễn Duy V.

- 02 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Duy T, Nguyễn Duy T. Hiện Cơ quan Điều tra đã trả lại những tài sản trên cho chủ sở hữu.

Tại bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá Ủy ban nhân dân thị xã Hương Thủy số: 27 ngày 03/4/2018, kết luận: 01 máy tính xách tay hiệu Toshiba A205-S6808, 01 ví da, 01 túi xách đựng máy tính xách tay có tổng giá trị là: 2.630.000 đồng. Ngày 18/4/2018, Hội đồng định giá Ủy ban nhân dân thị xã Hương Thủy ban hành kết luận số: 31, xác định 18 đô la Mỹ có giá trị là: 410.760đồng.

Tại bản cáo trạng số: 39/CT/VKS-HTh ngày 08/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy đã truy tố Phạm L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề  nghị Hội đồng xé xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm L từ 12 đến 15 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

Về dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

Ý kiến của bị cáo và lời nói sau cùng của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy đã truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ý kiến của bị hại: Tài sản bị mất đã được thu hồi và trả lại cho bị hại, bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Hương Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo: Bị cáo Phạm L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do cần tiền tiêu xài cá nhân, nên vào khoảng 14 giờ ngày 31/3/2018 bị cáo Phạm L đã có hành vi lén lút đột nhập vào nhà anh Nguyễn Duy V lấy trộm 01 máy tính xách tay hiệu Toshiba A205-S6808, 01 ví da bên trong có số tiền 500.000 đồng, 18 đô la Mỹ của anh Nguyễn Duy V, có tổng giá trị là: 3.540.760 đồng (Ba triệu năm trăm bốn mươi nghìn bảy trăm sáu mươi đồng). Do đó, bị cáo đã phạm vào tội “Tội trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy đã truy tố.

[3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Bị cáo Phạm L đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản nhưng chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên bị cáo đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, cũng như đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, và người bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nênbị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

[4] Xét các căn cứ quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án, khi thực hiện hành vi bị cáo nhận thức rõ hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương; bị cáo đã nhiều lần bị kết án về những tội phạm khác nhau, nhưng không lấy đó làm bài học cho mình, chứng tỏ bị cáo có ý thức, coi thường pháp luật, nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo có thu nhập thấp và không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Đối với anh Nguyễn Thanh T do không biết máy tính xách tay hiệu Toshiba A205-S6808 do Phạm L đưa đến cầm cố là do phạm tội mà có nên không xử lý.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phạm L cùng gia đình đã bồi thường cho bị hại là anh Nguyễn Duy V số tiền 900.000đ và anh Nguyễn Thanh T số tiền 200.000đ. Tại phiên tòa không có ai yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[8] Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại các vật chứng đã thu giữ cho chủ sở hữu, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

 [9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm h khoản 1 Điều 52; các điểm b, s khoản1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

2. Tuyên bố bị cáo Phạm L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

3. Xử phạt: Bị cáo Phạm L 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (Ngày 01 tháng 04 năm 2018).

4. Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không giải quyết.

5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Phạm L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


83
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 41/2018/HS-ST ngày 25/07/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:41/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Hương Thủy - Thừa Thiên Huế
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:25/07/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về