Bản án 41/2018/HS-ST ngày 23/03/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ - TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 41/2018/HS-ST NGÀY 23/03/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trong ngày 23 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 96/2018/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2018/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 03 năm 2018 đối với bị cáo:

Phan Phúc L (tên gọi khác Heo) (có mặt)

Sinh ngày: 24/10/1991, tại Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang

Nơi ĐKTT: Số nhà 3/14C khu phố D, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Chỗ ở: Số nhà 3/14C khu phố D, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Nghề nghiệp: Buôn bán.

Trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Phan Chiến Kh và bà Nguyễn Thị D.

Giang Vợ: Chưa.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo đang tại ngoại.

- Người bị hại: Lâm Thành T, sinh năm: 1982 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà 110B đường T, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang

- Người làm chứng: Dương Văn TH, sinh năm: 1979 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà 79 đường đường T, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Phúc L là người có sở thích chơi hoa lan nhưng do không có tiền mua lan nên L nảy sinh ý định trộm hoa lan của người khác mang về nhà mình để trồng. L phát hiện tại trước sân nhà anh Lâm Thành T có trồng nhiều hoa lan đẹp nên đã 03 lần lén đột nhập vào lấy trộm hoa lan của anh T, cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Khoảng cuối tháng 9/2017 (không nhớ ngày cụ thể) vào đêm khuya L đã trèo qua hàng rào vào sân nhà anh Lâm Thành T dùng kìm cắt dây chì lấy trộm được 01 giò lan Giả Hạc 07 nhánh và 01 giò lan Hạc Vĩ Thiên Cung có 09 nhánh (bút lục số 17, 18)

- Lần thứ hai: Khoảng cuối tháng 10/2017 (không nhớ ngày cụ thể) cũng vào đêm khuya và bằng thủ đoạn tương tự như lần trước, L đã lấy trộm của anh T được 02 giò lan Trầm Rồng Đỏ, mỗi giò lan có 03 đến 04 nhánh và 01 giò lan Hạc Vĩ Thiên Cung có 05 nhánh (bút lục số 19, 20)

- Lần thứ ba: Khoảng 01 giờ ngày 11/11/2017, L mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo biển số 95G1-048.02 của Dương Văn Thành chạy xe đến cách nhà anh T khoảng 50m thì dừng xe lại rồi đi bộ lại nhà anh T để trộm hoa lan. Khi đi L có mang theo 01 cây kìm bằng kim loại dài khoảng 20cm và 01 cây kéo lưỡi bằng kim loại dài khoảng 25cm để cắt dây chì treo hoa lan. Đến nhà anh T, L trèo qua hàng rào vào bên trong, biết nhà anh T có camera nên L lấy 01 cái quần thun chùm lên camera để không cho camera quay lại được. Sau đó, L lấy kìm mang theo cắt dây chì lấy trộm 01 giò lan Giả Hạc có 10 nhánh đang treo ở trước nhà anh T. Lúc này anh T phát hiện nên đã điện thoại báo cho Công an phường An Bình. Trong lúc L cầm giò lan trên tay leo lên hàng rào thì bị lực lượng Công an phường An Bình đến cùng anh T bắt quả tang cùng vật chứng đưa về Công an phường lập biên bản (bút lục số 17, 20, 21, 34).

Tất cả các giò lan trộm được trong 02 lần trước L đều đem về nhà mình trồng và đã giao nộp lại cho Công an. Đếnngày 20/11/2017 bị cáo bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra (bút lục số 49).

Bị cáo Phan Phúc L đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Phan Phúc L đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.

* Tại bản kết luận định giá tài sản số 160/KL-TCKH ngày 20/11/2017 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Rạch Giá xác định (bút lục số 79):

- 01 giò lan Giả Hạc 10 nhánh trị giá 3.000.000 đồng;

- 01 giò lan Giả Hạc 10 nhánh trị giá 2.000.000 đồng;

- 01 giò lan Hạc Vĩ Thiên Cung có 09 nhánh trị giá 2.500.000 đồng;

- 01 giò lan Hạc Vĩ Thiên Cung có 05 nhánh trị giá 1.500.000 đồng;

- 02 giò lan Trầm Rồng Đỏ có 03 đến 04 nhánh trị giá 2.000.000 đồng (02 giò x 1.000.000đ = 2.000.000đ);

Tổng cộng 06 giò lan nêu trên có giá trị tổng cộng 11.000.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá tài sản nêu trên.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Lâm Thành T đã nhận lại toàn bộ tài sản và không yêu cầu bồi thường gì khác.

* Theo bản cáo trạng số: 36/CT.KSĐT ngày 12/02/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Phan Phúc L về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Phan Phúc L – 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 18 tháng.

Về phần dân sự: Bị hại anh Lâm Thành T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì khác; nên đề nghị không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu, tiêu huỷ 01 cây kìm bằng kim loại có cán bằng vỏ màu đỏ, dài khoảng 20cm; 01 cây kéo bằng kim loại màu đen dài khoảng 25cm và 01 sợi dây kim loại màu trắng dài khoảng 90cm (theo quyết định chuyển giao vật chứng số 19 ngày 12/02/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang) Bị cáo nói lời nói sau cùng: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên toà hôm nay bị cáo Phan Phúc L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu; lời nhận tội trên phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, của những người tham gia tố tụng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Bản thân bị cáo muốn có hoa lan để trồng nên L dụng vào đêm khuya không có ai, bị cáo L đã lén lút đột nhập vào sân nhà anh Lâm Thành T tại số nhà 110B đường Trần Quí Cáp, phường An Bình, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, bị cáo dùng kìm cắt dây chì lấy trộm cây Lan của anh T tổng cộng 03 lần, cụ thể:

- Vào khoảng cuối tháng 9/2017 bị cáo đã lấy trộm của anh T được 01 giò lan Giả Hạc 07 nhánh và 01 giò lan Hạc Vĩ Thiên Cung 09 nhánh (trị giá qua định giá là 4.500.000 đồng);

- Vào khoảng cuối tháng 10/2017 bị cáo đã lấy trộm của anh T được 02 giò lan Trầm Rồng Đỏ, mỗi giò lan có 03 đến 04 nhánh và 01 giò lan Hạc Vĩ Thiên Cung 05 nhánh (trị giá qua định giá là 3.500.000 đồng);

- Vào khoảng 01 giờ ngày 11/11/2017, bị cáo tiếp tục lấy trộm của anh T được 01 giò lan Giả Hạc 10 nhánh (trị giá qua định giá là 3.000.000 đồng), trong lúc L cầm giò lan trên tay leo lên hàng rào thì bị lực lượng Công an bắt quả tang cùng vật chứng. Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp của anh T qua định giá là 11.000.000 đồng. Sau khi bị bắt quả tang bị cáo tự nguyện giao tất cả các giò lan trộm được trong 02 lần trước cho Cơ quan Công an để trao trả cho chủ sở hữu.

Từ những chứng cứ đã nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Phan Phúc L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mặc dù bị cáo ý thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn có hoa lan để trồng nên bị cáo đã bất chấp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo với lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến cuộc sống gia đình người bị hại, làm mất an ninh, trật tự ở địa phương và gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Do đó, cần xử bị cáo một mức hình phạt thật tương xứng đối với tội trạng của bị cáo nhằm có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt; đồng thời cũng nhằm ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội. Tuy nhiên, không cần bắt giam bị cáo để cho bị cáo có điều kiện chăm lo cho gia đình nên cho bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ nghiêm.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhiều lần (trộm tài sản của bị hại tổng cộng 03 lần) nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt thể hiện việc bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội làn đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo tự nguyện giao nộp tài sản đã trộm được để trả lại cho bị hại. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 138 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đã cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Lâm Thành T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì khác; nên miễn xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 cây kìm bằng kim loại có cán bằng vỏ màu đỏ, dài khoảng 20cm; 01 cây kéo bằng kim loại màu đen dài khoảng 25cm và 01 sợi dây kim loại màu trắng dài khoảng 90cm, bị cáo đã sử dụng các công cụ này vào việc phạm tội nên cần tịch thu, tiêu huỷ là phù hợp với quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14; Công văn số 04/TANDTC-PC ngày 09/01/2018 của Toà án nhân dân tối cao; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Áp dụng: Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm b, r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Phan Phúc L Phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Phan Phúc L - 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 18 tháng. Thời hạn tính kể từ khi tuyên án.

Giao bị cáo cho UBND phường Vĩnh Hiệp, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tiếp tục quản lý, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác nên miễn xét.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu huỷ 01 cây kìm bằng kim loại có cán bằng vỏ màu đỏ, dài khoảng 20cm; 01 cây kéo bằng kim loại màu đen dài khoảng 25cm và 01 sợi dây kim loại màu trắng dài khoảng 90cm (theo quyết định chuyển giao vật chứng số 19 ngày 12/02/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang).

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


97
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về