Bản án 41/2018/HS-PT ngày 02/07/2018 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 41/2018/HS-PT NGÀY 02/07/2018 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 02 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 31/2018/HSPT ngày 02 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo Võ Hoàng L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 28/2018/HS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre.

- Bị cáo có kháng cáo:

Võ Hoàng L, sinh ngày 02 tháng 10 năm 1976 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: số 1xx B3, khu phố B, phường x, thành phố B, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Hoàng V, sinh năm 1956 và bà Phạm Thị Kim M, sinh năm 1956; có vợ Phan Thị Cẩm Q, sinh năm 1983; có 02 người con: lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2009; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 42 ngày 03/11/2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre. Bị cáo tại ngoại; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phan Hồng Sơn là Luật sư và ông Phạm Ngọc Thạo là Luật sư – Công ty luật TNHH MTV Phan Hồng Sơn và cộng sự; có mặt.

- Người có liên quan đến kháng cáo:

Bị hại Đoàn Vũ C, sinh năm 1988. Nơi cư trú: số 3xA, khu phố B, phường x, thành phố B, tỉnh Bến Tre; có mặt.

Người làm chứng Lâm Thị Mỹ N, sinh năm 1986. Nơi cư trú: số 2xxD, đường H, khu phố x, Phường x, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Hoàng L và Đoàn Vũ C là tài xế lái xe cho hãng taxi Mai Linh tại thành phố Bến Tre. Do có mâu thuẫn trong lúc đón khách nên vào khoảng 07 giờ 15 phút ngày 09/01/2017, tại cửa hàng xăng dầu Phú Khương ở khu phố 1, phường Phú Tân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, L và C xảy ra cự cãi với nhau. Trong lúc C đang ngồi trên nền nhựa để ký sổ thì L xông vào dùng chân phải đá mạnh vào mặt C một cái làm C ngã về phía sau bị thương tích nặng. Bà Lâm Thị Mỹ N và ông Huỳnh Trần Hữu T dùng xe taxi đưa C vào Bệnh viện Minh Đức cấp cứu và điều trị. Đến ngày 20/01/2017, Đoàn Vũ C có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Võ Hoàng L.

Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 59-0217/TgT ngày 07/3/2017 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Bến Tre kết luận Đoàn Vũ C bị các thương tích: Chấn thương đầu, mũi; sưng vùng mũi kích thước 02cm x 02 cm; CT Scan đầu: gãy xương chính mũi, xuất huyết liềm não; hiện: tỉnh, tiếp xúc tốt; khai nghẹt mũi ít, ngửi giảm mùi; tê sống mũi. Quyết định xếp tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích là: 21%.

Tại công văn số 609/CSĐT ngày 08/8/2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre, đề nghị Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Bến Tre phân tích tỷ lệ từng vết thương và cơ chế hình thành vết thương của nạn nhân Đoàn Vũ C. Theo Công văn số 132-817/TTPY ngày 15/8/2017 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Bến Tre cho biết: cơ chế hình thành vết thương là do vật tày gây ra; gãy xương chính mũi 9% và xuất huyết liềm não 16%. Do đó tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích của Đoàn Vũ C là 24 %.

Ngày 03/10/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Bến Tre ra quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ thương tật, cơ chế hình thành vết thương đối với Đoàn Vũ C.

Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích (giám định lại) số 3393/C54B ngày 18/10/2017 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

* Dấu hiệu chính qua giám định:

- Gãy xương chính mũi.

- Xuất huyết liềm não sau.

* Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Đoàn Vũ C:

Đối chiếu với bảng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số 20/2014/TT-BYT, ngày 12/6/2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể ông Đoàn Vũ C như sau:

- Gãy xương chính mũi. Theo Chương 13, Phần II, Mục 3.1 được tính 09%.

- Xuất huyết liềm não. Theo Chương 2, Phần III, Mục 8 được tính 16%.

Áp dụng phương pháp cộng lùi và làm tròn, xác định tại thời điểm giám định ông Đoàn Vũ C có tỷ lệ thương tật là 24%.

Kết luận khác:

- Thương tích của Đoàn Vũ C do vật tày tác động gây ra.

- Dùng chân đá vào mặt gây được thương tích chấn thương đầu, mũi, gãy xương chính mũi và xuất huyết liềm não sau.

- Nếu đầu bị hại không đập xuống nền nhựa thì có thể hoặc không gây xuất huyết liềm não sau, tùy trường hợp cụ thể.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2018/HS-ST ngày 26-3-2018 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Võ Hoàng L phạm “Tội cố ý gây thương tích”;

1. Áp dụng khoản 1 Điều 104; điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Võ Hoàng L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

2. Áp dụng Điều 42 của Bộ luật Hình sự năm 1999; các Điều 357, 584, 585, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015:

Ghi nhận bị cáo Võ Hoàng L đã bồi thường 10.000.000 (mười triệu) đồng cho bị hại Đoàn Vũ C tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. (Theo biên lai thu tiền số 0000908 ngày 17/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre).

Buộc bị cáo Võ Hoàng L có trách nhiệm bồi thường tiếp cho bị hại Đoàn Vũ C số tiền là 10.255.900 (mười triệu hai trăm năm mươi lăm ngàn chín trăm) đồng.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về phần lãi suất chậm thi hành án, án phí, quyền và thời hạn kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 09/4/2018 bị cáo Võ Hoàng L kháng cáo yêu cầu được hưởng án treo, đồng thời yêu cầu xem xét lại tỷ lệ thương tích xuất huyết liềm não 16% của bị hại; không đồng ý mức thu nhập bình quân của bị hại là 350.000 đồng/ngày, không đồng ý bồi thường tiền bồi dưỡng cho bị hại, chỉ đồng ý bồi thường tổn thất về tinh thần cho bị hại là 5.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi dùng chân đá vào mặt bị hại Đoàn Vũ C gây thương tích đúng như nội dung Bản án sơ thẩm đã tuyên. Bị cáo thay đổi, bổ sung kháng cáo: bị cáo rút kháng cáo yêu cầu xem xét lại tỷ lệ thương tích xuất huyết liềm não 16% của bị hại và rút kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự yêu cầu giảm tiền bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị cáo chỉ kháng cáo yêu cầu được hưởng án treo và bổ sung kháng cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại Đoàn Vũ C phát biểu ý kiến: do có mâu thuẫn trong việc rước khách đi xe taxi nên anh có nói với bị cáo “một hai cuốc khách không bao nhiêu anh chạy kiểu mất dạy vậy”, nên bị cáo dùng chân đá vào mặt anh gây tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích là 24 %, anh thừa nhận câu nói này đã làm cho bị cáo bức xúc nên anh cũng có một phần lỗi, anh đồng ý với Bản án sơ thẩm đã tuyên nên không có kháng cáo, anh không đồng ý cho bị cáo hưởng án treo, anh yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Người làm chứng Lâm Thị Mỹ N phát biểu ý kiến: khi chị đang ngồi thu tiền thì thấy bị cáo L rút chân về và bị hại C bị té đang chống hai tay xuống đất về phía sau. Chị nghĩ bị cáo L đá bị hại C té, còn bị hại C té có nằm xuống mặt đường nhựa hay không thì chị không thấy.

Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên thể hiện như sau:

- Về thủ tục tố tụng: đơn kháng cáo của bị cáo gửi đến Tòa án trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự là phù hợp.

- Về nội dung: bị cáo có hành vi cố ý dùng chân đá vào mặt bị hại C gây tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích cho C là 24%, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất an ninh trật tự an toàn xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên bố bị cáo Võ Hoàng L phạm “Tội cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng pháp luật; mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là tương xứng; tại phiên tòa phúc thẩm bị hại không đồng ý cho bị cáo hưởng án treo và yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên Bản án sơ thẩm. Áp dụng khoản 1 Điều 104; điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Võ Hoàng L 06 tháng tù về “Tội cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Bị cáo phát biểu tranh luận: không tranh luận.

Người bào chữa cho bị cáo Võ Hoàng L: Luật sư Phạm Ngọc Thạo cho rằng đồng ý về tội danh của bị cáo nên không tranh luận. Do trước đây bị cáo không am hiểu pháp luật nên sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo có kháng cáo yêu cầu xem xét lại tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích xuất huyết liềm não 16% của bị hại C và yêu cầu giảm bớt tiền bồi thường thiệt hại cho bị hại. Nay bị cáo đã hiểu rõ hành vi trái pháp luật của mình nên đã tự nguyện nộp tại Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre tổng số tiền 20.255.900 đồng để bồi thường thiệt hại cho bị hại. Bị cáo cũng đã tự nguyện rút lại kháng cáo yêu cầu xem xét lại tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích xuất huyết liềm não 16% của bị hại C và rút lại kháng cáo yêu cầu giảm bớt tiền bồi thường thiệt hại cho bị hại. Bị cáo chỉ kháng cáo yêu cầu được hưởng án treo và yêu cầu được giảm nhẹ hình phạt. Về hình phạt đối với bị cáo, xét thấy: bị hại có lời lẽ chửi bị cáo chạy xe mất dạy nên bị cáo nhất thời gây thương tích cho bị hại, tại phiên tòa phúc thẩm bị hại cũng thừa nhận mình có lỗi; bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, ở cấp sơ thẩm bị cáo nộp tại Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre số tiền 10.000.000 đồng để bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tại cấp phúc thẩm bị cáo nộp tại Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre số tiền 10.255.900 đồng để bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị cáo có nghề nghiệp ổn định, có nơi cư trú rõ ràng, có con chưa thành niên, hoàn cảnh gia đình khó khăn; đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 cho bị cáo. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xét thấy không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Điều 60 của Bộ luật Hình sự năm 1999 để xử phạt bị cáo 06 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

Người bào chữa cho bị cáo Võ Hoàng L: Luật sư Phan Hồng Sơn cho rằng bị cáo có thiện chí bồi thường thiệt hại cho bị hại nên đã cầm cố xe mô tô lấy tiền nộp tại Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre để bồi thường thiệt hại cho bị hại theo Bản án sơ thẩm đã tuyên. Về hành vi của bị cáo, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lẽ đó bị cáo đã rất ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị hại Đoàn Vũ C phát biểu tranh luận: không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử phúc thẩm cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Võ Hoàng L khai nhận hành vi cố ý gây thương tích cho bị hại Đoàn Vũ C phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, thể hiện: xuất phát từ mâu thuẫn trong quá trình chở khách, vào khoảng 07 giờ 15 phút ngày 09/01/2017 tại cửa hàng xăng dầu Phú Khương ở khu phố 1, phường Phú Tân, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, Võ Hoàng L đã có hành vi cố ý dùng chân phải đá vào mặt Đoàn Vũ C 01 cái gây tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích là 24%. Với ý thức, hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên bố bị cáo Võ Hoàng L phạm “Tội cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo yêu cầu được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, đã nộp 10.000.000 đồng tại Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre để bồi thường thiệt hại cho bị hại; đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo 06 tháng tù. Tại cấp phúc thẩm; bị cáo cung cấp hợp đồng cầm xe mô tô, biên lai nộp tiền 10.255.900 đồng tại Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre để bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị cáo cho rằng đã cầm xe mô tô lấy tiền nộp tại Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre để bồi thường thiệt hại cho bị hại, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, vợ bị cáo đi làm tạp vụ, bị cáo có 02 con còn nhỏ trong độ tuổi đi học, Công an Phường 6 thành phố Bến Tre xác nhận bị cáo có hạnh kiểm tốt, không vi phạm trật tự và các quy định của địa phương, Giám đốc công ty TNHH OPEN 99 Bến Tre xác nhận bị cáo là nhân viên lái xe tại công ty từ ngày 18/01/2017 đến nay để yêu cầu được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo. Xét thấy; bị cáo đã có hành vi cố ý dùng chân mang giày da đá trúng vào vùng mặt của bị hại gây thương tích, hành vi của bị cáo đã xâm hại đến sức khỏe của bị hại, gây mất an ninh trật tự an toàn xã hội, vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng hình phạt tù không cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp. Tuy nhiên; xét thấy bị cáo cũng đã tỏ ra ăn năn hối cải, thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đã tự nguyện nộp tại Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre số tiền 20.255.900 đồng để bồi thường thiệt hại cho bị hại theo Bản án sơ thẩm đã tuyên; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng; ngoài ra, bị cáo mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong vụ án này bị hại cũng có lỗi, đây là hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nhưng chưa được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng. Do bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại cấp phúc thẩm có thêm tình tiết giảm nhẹ mới, nên cần áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 1999 cho bị cáo là phù hợp. Xét thấy quyết định của Bản án sơ thẩm về phần hình phạt tù đối với bị cáo là chưa tương xứng với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

[3] Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên

Bản án sơ thẩm. Người bào chữa đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm nên không được chấp nhận.

[4] Tại cấp phúc thẩm bị cáo có nộp số tiền 10.255.900 đồng theo biên lai thu tiền số 0010326 ngày 29/6/2018 của Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm ghi nhận để làm cơ sở cho Cơ quan có thẩm quyền thi hành án theo quy định của pháp luật.

[5] Về án phí:

- Bản án sơ thẩm nhận định bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại tổng số tiền 20.255.900 đồng. Phần quyết định của Bản án sơ thẩm: ghi nhận bị cáo đã bồi thường 10.000.000 đồng cho bị hại tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (Theo biên lai thu tiền số 0000908 ngày 17/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre); buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường tiếp cho bị hại số tiền là 10.255.900 đồng và phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 512.795 đồng. Xét thấy: đối với số tiền 10.000.000 đồng bị cáo đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000908 ngày 17/01/2018 của Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, trên thực tế bị hại chưa được nhận số tiền này nên không thể xem bị cáo đã bồi thường trước cho bị hại 10.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm không buộc bị cáo phải chịu án phí đối với số tiền 10.000.000 đồng này mà chỉ buộc bị cáo phải chịu án phí đối với số tiền 10.255.900 đồng còn lại với số tiền án phí 512.795 đồng là không phù hợp. Tuy nhiên, do không làm xấu hơn tình trạng của bị cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét, nhưng cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

- Bị cáo Võ Hoàng L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ vào điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Võ Hoàng L; sửa Bản án sơ thẩm số: 28/2018/HSST ngày 26/3/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;

Áp dụng khoản 1 Điều 104; điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều 33 của Bộ luật Hình sự năm 1999;

Xử phạt bị cáo Võ Hoàng L 03 (ba) tháng tù về “Tội cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù.

[2] Về án phí: căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Bị cáo Võ Hoàng L không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự, lãi suất chậm thi hành án, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


74
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về