Bản án 41/2018/HNGĐ-ST ngày 25/09/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 41/2018/HNGĐ-ST NGÀY 25/09/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 25/9/2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 78/2018/TLST-HNGĐ ngày 05/6/2018 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2018/QĐST- HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị V, sinh năm 1986

Địa chỉ: thôn Đ, xã Q, huyện X, tỉnh Thái Bình.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1977

Nơi ĐKHKTT: thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam

Chỗ ở hiện nay: 2/3/36, đường TL31, tổ 16-KP3C, phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người làm chứng: Ông Trần Văn M, sinh năm 1955

Địa chỉ: thôn Đ, xã Q, huyện X, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị V trình bày: chị và anh Nguyễn Văn Đ tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam vào ngày 28/10/2010. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2013 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống, chị đã đưa con về xã Q, huyện X ở từ đó đến nay, hai người không còn quan tâm đến nhau. AnhĐ đồng ý ly hôn, nên đã gửi văn bản lựa chọn Tòa án, bản tự khai và đơn xin giải quyết vắng mặt có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường T cho chị để chị đã nộp cho Tòa án. Đến nay chị vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn anhĐ.

Về con chung: Chị và anhĐ có một con chung tên Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 19/02/2013, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anhĐ góp tiền cấp dưỡng nuôi con, chị bán thuốc tân dược tại địa phương, thu nhập khoảng 5.000.000 đồng/ tháng.

Về tài sản và nợ chung: không có.

Tại bản tự khai, đơn đề nghị giải quyết ly hôn vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Văn Đ trình bày về thời gian kết hôn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn như chị V khai. Anh xác định vợ chồng không trở về đoàn tụ được nên cũng nhất trí ly hôn.

Về con chung: Anh và chị V có một con chung đúng như chị ị V trình bày, anh nhất trí để chị V trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị V không yêu cầu anh góp tiền cấp dưỡng nuôi con anh không có ý kiến gì.

Về tài sản và nợ chung: không có.

Ông Trần Văn M ( là bố đẻ của chị V ) trình bày: chị V và anhĐ sau khi kết hôn chung sống đến khoảng năm 2013 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chị V bị bệnh, lại đang nuôi con nhỏ nhưng anhĐ không quan tâm đến mẹ con chị do vậy chị đã về nhà ông sinh sống. Từ đó đến nay anhĐ chỉ đến thăm mẹ con chị V một lần vào tháng 6/2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương phát biểu quan điểm:

Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70,71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Trần Thị V được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ; về con chung : giao con chung Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 19/02/2013 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng không đặt ra giải quyết vì chị V không yêu cầu; về tài sản chung các đương sự đều khai không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Anh Nguyễn Văn Đ và chị Trần Thị V lựa chọn Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình giải quyết yêu cầu ly hôn, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự .

[2] Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân huyện Kiến Xương tham gia phiên tòa là đúng với quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Anh Nguyễn Văn Đ đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

- Về nội dung vụ án:

[4] Về quan hệ hôn nhân: Chị V và anhĐ tự nguyện kết hôn với nhau,có đăng ký kết hôn là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Anh chị chung sống đến năm 2013 phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình không hợp nên đã sống ly thân từ đó đến nay. Chị V xin ly hôn, anhĐ xác định vợ chồng không trở về đoàn tụ với nhau được nên cũng nhất trí. Điều này chứng tỏ tình cảm không còn, cuộc sống không có hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị V, xử cho chị được ly hôn anhĐ là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[5] Về con chung: AnhĐ và chị ị V có một con chung tên Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 19/02/2013. Cháu Tuấn Anh ở cùng với chị V từ khi anh chị sống ly thân, anhĐ nhất trí để chị ị V trực tiếp nuôi dưỡng con chung; để cuộc sống của cháu Tuấn Anh được ổn định cần chấp nhận yêu cầu của chị V, ý kiến của anhĐ và đại diện VKSND huyện Kiến Xương để giao con chung cho chị ị V trực tiếp nuôi dưỡng là đúng với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Chị ị V không yêu cầu anhĐ góp tiền cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra giải quyết.

[6] Về tài sản và nợ chung: các đương sự đều khai đều khai không có.

[7] Về án phí: Chị Trần Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

- Áp dụng khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị V được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 19/02/2013 cho chị Trần Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết vì chị ị V không yêu cầu.

3. Về án phí: Chị Trần Thị V phải chịu 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng) chị ị V đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001036 ngày 05/6/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xương thành án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị V có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 25/9/2018, anh Nguyễn Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

227
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 41/2018/HNGĐ-ST ngày 25/09/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:41/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kiến Xương - Thái Bình
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 25/09/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về