Bản án 41/2018/HNGĐ-ST ngày 23/04/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP.BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK

BẢN ÁN 41/2018/HNGĐ-ST NGÀY 23/04/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 23/4/2018 tại Toà án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1094/2017/TLST-HNGĐ ngày 23/11/2017, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/QĐXX-HNGĐ ngày 20/3/2018 và quyết định hoãn phiên tòa số 28/2018/QĐH-TA ngày 05/4/2018, giữa các đương sự:

1.  Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1993 (có mặt) Địa chỉ: Số 167, Thôn 6, xã H, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk.

2.  Bị đơn: Ông Huỳnh Đ, sinh năm 1980 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 167, Thôn 6, xã H, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy T trình bày:

Tôi và ông Huỳnh Đ tự nguyện tìm hiểu yêu thương nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Uỷ ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 26/02/2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng chuyển về Thôn 6, xã H, Tp. B, tỉnh Đăk Lăk để sinh sống. Trong quá trình chung sống, chúng tôi hạnh phúc được thời gian đầu thì bất đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông Đ rượu chè, cờ bạc, đánh đập vợ con. Mặc dù tôi đã khuyên giải nhiều nhưng ông Đ vẫn không thay đổi,  vợ chồng không hòa hợp trong cách sống. Khi xảy ra mâu thuẫn chúng tôi đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành. Nay tôi thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được tôi xin được ly hôn với ông Huỳnh Đ

Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là cháu Huỳnh Văn N, sinh ngày 31/5/2010.

Nguyện vọng của tôi chấp nhận giao cháu Huỳnh Văn N cho ông Huỳnh Đ trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Huỳnh Văn N đủ tuổi thành niên.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Huỳnh Đ vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà và kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay,  HĐXX nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn ông Huỳnh Đ. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Huỳnh Đ vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Huỳnh Đ.

[2]Về nội dung: Bà Nguyễn Thị Thùy T và ông Huỳnh Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Uỷ ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 26/02/2010. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Trong quá trình chung sống vợ chồng bà T và ông Đ thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống không thể giải quyết được. Qua xác minh tại địa phương thì vợ chồng bà T và ông Đ có phát sinh nhiều mâu thuẫn đã được chính quyền địa phương hoà giải nhưng không thành. Qúa trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay bà T cương quyết xin ly hôn vì cho rằng không còn tình cảm với ông Đ. Do đó HĐXX xét thấy mâu  thuẫn vợ chồng bà T và ông Đ đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạtđược nên cần chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn  của bà Nguyễn Thị Thùy T được ly hôn với ông Huỳnh Đ.

Về con chung: Có 01 con chung là cháu Huỳnh Văn N, sinh ngày 31/5/2010.

Xét thấy cháu N có nguyện vọng được ở với ông Huỳnh Đ và bà T cũng có nguyện vọng giao con cho ông Huỳnh Đ chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi cháu N đủ tuổi thành niên. Do đó cần giao cháu Huỳnh Văn N cho ông Huỳnh Đ chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ tuổi thành niên. Các bên có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy T không đề nghị cấp dưỡng nuôi con chung, hơn nữa trong quá trình giải quyết vụ án ông Huỳnh Đ không tham gia tố tụng và cũng không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về án phí HNGĐST: Bà Nguyễn Thị Thùy T phải chịu án phí HNGĐST là 300.000đ được khấu trừ vào 300.000đ tạm ứng án phí mà bà Hà đã nộp theo biên lai số 0000670 ngày 21/11/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự TP. B, tỉnh ĐăkLăk. Ông Huỳnh Đ không phải chịu án phí HNGĐST.

Bởi các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Điều 53, Điều 56,81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 220, Điều 266, Điều 267, Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Thùy T với ông Huỳnh Đ. Bà Nguyễn Thị Thùy T được ly hôn với ông Huỳnh Đ

Về con chung: Có 01 con chung là cháu Huỳnh Văn N, sinh ngày 31/5/2010. Giao cháu Huỳnh Văn N, sinh ngày 31/5/2010 cho ông Huỳnh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ tuổi thành niên. Các bên có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tòa án không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về án phí HNGĐST: Bà Nguyễn Thị Thùy T phải chịu án phí HNGĐST là 300.000đ được khấu trừ vào 300.000đ tạm ứng án phí mà bà T đã nộp theo biên lai số 0000670 ngày 21/11/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự TP. B, tỉnh ĐăkLăk. Ông Huỳnh Đ không phải chịu án phí HNGĐST. Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.


92
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 41/2018/HNGĐ-ST ngày 23/04/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:41/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:23/04/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về