Bản án 41/2018/HNGĐ-ST ngày 03/05/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN THỊ XÃ T, TỈNH B

BẢN ÁN 41/2018/HNGĐ-ST NGÀY 03/05/2018 VỀ LY HÔN 

Ngày 03 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 405/2017/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2017 về việc: Ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 28-02-2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2018/QĐST-HNGĐ ngày 19-3-2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị B, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ 5, ấp 5, xã V, thị xã T, tỉnh B; vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Lê Thanh P, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ 4, ấp 5, xã V, thị xã T, tỉnh B; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 9 năm 2017, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Võ Thị B trình bày: Bà Võ Thị B và ông Lê Thanh P tự nguyện tìm hiểu nhau và tiến tới hôn nhân. Ông bà đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T (nay là thị xã T), tỉnh B được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 61/2003 ngày 14 10-2003).

Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông P thường xuyên uống rượu rồi về nhà gây sự và xúc phạm bà B. Bà B đã nhiều lần khuyên ông P thay đổi để giữ hạnh phúc gia đình nhưng ông P không thay đổi. Bà B xác định ông bà không còn tình cảm với nhau, vợ chồng sống chung không hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà B nộp đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông P.

Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà Võ Thị B được ly hôn với ông Lê Thanh P.

Về con chung: Không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nguyên đơn cung cấp bản sao các tài liệu, chứng cứ sau:

- Bản sao trích lục Giấy chứng nhận kết hôn của bà Võ Thị B và ông Lê Thanh P;

- Bản sao sổ hộ khẩu gia đình của ông Lê Thanh P và bà Võ Thị B;

Bị đơn ông Lê Thanh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng ông P vắng mặt.

Tại biên bản xác minh ngày 12-12-2017 của Ủy ban nhân dân xã V, thị xã T, tỉnh B thì ông Lê Thanh P có đăng ký thường trú tại tổ 5, ấp 5, xã V, thị xã T, tỉnh B; về mâu thuẫn của vợ chồng thì chính quyền địa phương không nhận được tin báo hay đơn yêu cầu giải quyết mâu thuẫn của đương sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên phát biểu tại phiên tòa: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật đúng theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên.

Về nội dung: Bà Võ Thị B và ông Lê Thanh P tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T (nay là thị xã T), tỉnh B được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 61/2003 ngày 14-10-2003). Bà Võ Thị B yêu cầu ly hôn vì ông P thường xuyên uống rượu rồi về nhà gây sự, xúc phạm bà B. Bà B đã nhiều lần khuyên ông P thay đổi để giữ hạnh phúc gia đình nhưng ông P không thay đổi; vợ chồng đã sống ly thân với nhau. Bà B xác định ông bà không còn tình cảm với nhau, vợ chồng sống chung không hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà B.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về quan hệ pháp luật và Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Võ Thị B có đơn khởi yêu cầu ly hôn với ông Lê Thanh P nên đây là vụ án “Ly hôn” theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Ông Lê Thanh P có địa chỉ thường trú tại tổ 5, ấp 5, xã V, thị xã T, tỉnh B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về tố tụng: Bà Võ Thị B có đơn xin vắng mặt. Ông Lê Thanh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào các ngày 21-12-2017; 15-01-2018 nhưng ông P vắng mặt không lý do. Tòa án triệu tập hợp lệ ông Lê Thanh P tham gia phiên tòa ngày 19-3-2018 nhưng ông P vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập ông P tham gia phiên tòa vào ngày 11-4-2018 nhưng ông P vắng mặt không có lý do là ông P đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình tại Tòa án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ để giải quyết vụ án vắng mặt bà B và ông P theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị B và ông Lê Thanh P là những người đủ điều kiện kết hôn; chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu để tiến tới hôn nhân; có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T (nay là thị xã T), tỉnh B được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 61/2003 ngày 14-10-2003, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Do tình cảm vợ chồng không còn, ông bà không thể tiếp tục chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà B yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Ông Lê Thanh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, điều này cho thấy ông P hoàn toàn không có thiện chí để Tòa án hòa giải vợ chồng đoàn tụ cùng nhau xây dựng gia đình. Xét mâu thuẫn giữa bà Võ Thị B và ông Lê Thanh P đã trầm trọng, không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà Võ Thị B yêu cầu ly hôn với ông Lê Thanh P là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

[4]. Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5]. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6]. Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật.

[7]. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 146, 147, 228, 238, 271, 273, 278 và 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị B về việc ly hôn với ông Lê Thanh P.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị B được ly hôn với ông Lê Thanh P.

- Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

2. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Võ Thị B phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0013328, ngày 06-10-2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.


102
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 41/2018/HNGĐ-ST ngày 03/05/2018 về ly hôn

Số hiệu:41/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Dầu Một - Bình Dương
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:03/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về