Bản án 40/2020/HSST ngày 30/05/2020 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 40/2020/HSST NGÀY 30/05/2020 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Trong ngày 30 tháng 5 năm 2020 tại Cơ sở cai nghiện ma túy công lập tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2020/HSST ngày 29 tháng 4 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2020/QĐXXST– HS ngày 18/5/2020đối với:

Bị cáo: Nguyễn Văn Ch, sinh ngày 18/12/1995.

Nơi sinh, nơi cư trú: Thôn ACT, xã TV, huyện TT, tỉnh TB. Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Cha đẻ: Nguyễn Văn Ch1 (đã chết). Mẹ đẻ: Nguyễn Thị A, sinh năm 1968; Chưa có vợ, con.

Nhân thân: Ngày 01/12/2016, bị Công an huyện TT ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi đánh nhau, đã nộp phạt ngày 05/12/2016.

Tiền án: 01. Ngày 27/02/2018 của Tòa án nhân dân huyện TT xử phạt 04 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án số 14/2018/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 06/6/2018.

Tiền sự: 01. Ngày 14/11/2018 bị Tòa án nhân dân huyện TT ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng. Ngày 04/10/2019Chính được đưa vào Cơ sở cai nghiện ma túy công lập tỉnh TB. Ngày 21/02/2020 được giám đốc cơ sở cai nghiện ma túy công lập tỉnh TB tạm thời đưa ra khỏi cơ sở cai nghiện ma túy. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 21/2/2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện ĐH.

(Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa) 

Bị hại Anh Nguyễn Huy Th, sinh năm 1991 Địa chỉ: Thôn LT, xã NX, huyện ĐH, tỉnh TB. ( Cómặt)

Nguyên đơn dân sự : Cơ sở cai nghiện ma túy công lập tỉnh TB Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Hoa Th1 – Chức vụ giám đốc. Người được ông Thám ủy quyền cho ông Phí Đức Đ - Chức vụ phó giám đốc ( Có mặt ông Đ) 

Người làm chứng :

1. Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1994.

HKTT: Thôn TN, xã MC, huyện ĐH, tỉnh TB.

2. Anh Vũ Văn Th2, sinh năm 1995. HKTT: Thôn PL, xã TP, huyện TT, tỉnh TB.

3. Anh Lại Mạnh H, sinh năm 1989.

HKTT: Thôn ĐA, xã HG, huyện ĐH, Tỉnh TB.

4. Anh Bùi Minh S - Là cán bộ của Cơ sở cai nghiện ma túy công lập tỉnh TB

5. Anh Phạm Thế K - Là cán bộ của Cơ sở cai nghiệnma túy công lập tỉnh TB

6. Anh Lê Văn T - Là cán bộ của Cơ sở cai nghiện ma túy công lập tỉnh TB Anh D, anh Th2, anh H là học viên, anh S, anh K, anh T là cán bộ của Cơ sở cai nghiện ma túy công lập tỉnh TB, Địa chỉ: Xã ĐQ, huyện ĐH, tỉnh TB.

(Vắng mặt anh Th2, anh S còn lại đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Ch, Nguyễn Huy Th, Nguyễn Văn D, Vũ Văn Th2 và Lại Mạnh H, đều là học viên của Cơ sở cai nghiện ma túy công lập tỉnh TB. Ngày 14/02/2020, cả 05 học viên trên được phân công lao động sản xuất giấy tiền tại xưởng 1 của Cơ sở cai nghiện, trong đó Th và D được phân công kiểm hàng. Khoảng 16 giờ cùng ngày đến giờ nộp hàng nhưng do chưa làm đủ lượng sản phẩm nên Ch chưa mang hàng lên nộp, Th và D gọi Ch nhắc nhở nên giữa Th, D và Ch xảy ra mâu thuẫn, Th đã dùng tay phải tát vào mặt Ch 02 phát, D dùng tay phải tát vào mặt Ch 02 phát; Ch đã cầm 01 chiếc bình cứu hỏa gần đó vung qua, vung lại mục đích để chống trả lại nhưng không trúng ai. Lúc này Th và H đang đứng gần đó nên đi đến can ngăn và giằng lấy chiếc bình cứu hỏa từ tay Ch, sau đó được anh Bùi Minh S và Phạm Thế K là cán bộ của Cơ sở cai nghiện gọi nhắc nhở nên hai bên dừng lại.

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 15/02/2020, anh Ch, Th cùng các học viên của Cơ sở cai nghiện xuống bếp ăn ăn sáng. Sau khi ăn xong tất cả các học viên ra sân xếp hàng kiểm tra quân số trước khi về phòng. Khi Ch đi xuống bậc thềm thứ 2 để xuống sân trước cửa bếp ăn thì nhìn thấy 01 lưỡi dao cạo kích thước (4,5 x 2) cm bằng kim loại màu trắng, cả 02 mặt của lưỡi dao có in chữ Treet PLATIUM SUPER STAINLESS nên Ch nảy sinh ý định nhặt lưỡi dao cạo này để gây thương tích cho các anh Th2, D, H, Th là những người đã va chạm với Ch chiều ngày 14/02/2020. Ch nhặt lưỡi dao cạo lên cầm ở tay phải và nhìn quanh sân tìm các anh Th2, D, H, Th nhưng không nhìn thấy Th2, D và H đâu mà chỉ nhìn thấy Th đang đứng ở khu vực giữa hàng giữa ngoài sân. Ch đi lại đứng ở đằng sau, chếch về phía bên phải và cách Th khoảng 50 đến 60cm. Khi Th đang đứng hơi khom người (chân đứng thẳng, lưng hơi khom) để chuẩn bị ngồi xuống sân thì Chính đưa tay phải cầm lưỡi dao cạo lên rạch liên tiếp 02 phát vào người Th, trong đó phát thứ nhất theo chiều từ trước về sau từ phải sang trái trúng vào vành tai phải và sau gáy phải; phát thứ hai theo chiều từ sau ra trước, từ trái sang phải trúng vào vùng cổ bên phải là má phải của Th. Sau khi gây thương tích cho Th, Ch đã bỏ chạy và vất lưỡi dao cạo vào gốc cây ở sân trước nhà ăn. Thế được đưa vào Phòng y tế của Cơ sở cai nghiện khâu và điều trị vết thương. Cơ sở cai nghiện đã thu giữ lưỡi dao cạo và bàn giao cho Cơ quan điều tra Công an huyện ĐH.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 16/20/TgT ngày 18/02/2020 của Trung tâm pháp y - Sở y tế TB kết luận: Th bị 04 vết thương gồm: Vùng sau gáy có vết thương rách da (đã khâu, chưa cắt chỉ), đo (11 x 0,5)cm; Vùng cổ trên phía sau bên phải có vết rách da, đo (3 x 0,5)cm; Vùng má phải có vết rách da, đo (6 x 0,6)cm; Vùng giữa vành tai phải có vết rách da, tổ chức dưới da và sụn (đã khâu, chưa cắt chỉ), đo (3 x 1)cm; các vết thương đều do vặt sắc tác động; Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 11% (mười một phần trăm).

Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ sở cai nghiện ma túy công lập tỉnh TB đã thu giữ giao nộp 01 lưỡi dao cạo kích thước (4,5x2) cm bằng kim loại màu trắng, ở cả 02 mặt của con dao có in chữ Treet PLATIUM SUPER STAINLESS giao nộp cho Cơ quan điều tra Công an huyện ĐH quản lý theo thủ tục vật chứng.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Th điều trị thương tích tại Phòng y tế của Cơ sở cai nghiện ma túy công lập tỉnh TB, toàn bộ chi phí điều trị được cơ sở cai nghiện chi trả (vì đây là chế độ của học viên cai nghiện); anh Th yêu cầu bị cáo bồi thường tổn hại sức khỏe và tổn thất tinh thần 5.000.000 đồng. Căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo, cáo trạng số 39/2020/CT - VKSĐH ngày 27/4/2020 của Viện kiểm sát Nhân dân huyện ĐH đã truy tố Nguyễn Văn Ch về tội: “Cố ý gây thương tích”theo quy định tại điểm đ, khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (với tình tiết định khung quy định tại điểm a, g, i khoản 1 điều 134 Bộ luật hình sự); Trong phần tranh luận tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐH phân tích nguyên nhân, điều kiện phạm tội, đánh giá chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, hậu quả, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trên cơ sở đó giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng số 39/2020/CT - VKSĐH ngày 27/4/2020 đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bốbị cáo phạm tội: “Cố ý gây thương tích” ; Áp dụng điểm đ, khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 điều 52, Điều 38, Điều 50 BLHS. Đề nghị HĐXX tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn Ch từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng – 02(hai) năm 09( chín) tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận yêu cầu của anh Th buộc bị cáo bồi thường tổn hại sức khỏe và tổn thất tinh thần 5.000.000 đồng; đồng thời đề nghị xử lý vật chứng.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Ch đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cụ thể: Khoảng 06 giờ 45 phút ngày 15/02/2020, tại sân trước cửa nhà ăn của Cơ sở cai nghiện ma túy công lập tỉnh TB, Nguyễn Văn Ch không có mâu thuẫn gì với anh Nguyễn Huy Th đã có hành vi dùng lưỡi dao cạo là hung khí nguy hiểm rạch 02 phát vào vùng tai phải, gáy và má phải anh Th gây thương tích, tổn hại 11% sức khỏe như bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo xác định cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng pháp luật, vì vậy không trình bày lời bào chữa, cũng không trình bày ý kiến tranh luận về tội danh, mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị.Tuy nhiên bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được mức hình phạt thấp nhất.

Tại phiên tòa anh Th trình bày: Khoảng 06 giờ 45 phút ngày 15/02/2020, Sau khi ăn cơm xong, khi Th đang xếp hàng chuẩn bị đi về tại sân trước cửa nhà ăn của Cơ sở cai nghiện ma túy công lập tỉnh TB thì bất ngờ bị Nguyễn Văn Ch từ đằng sau dùng lưỡi dao cạo rạch 02 phát vào vùng tai phải, gáy và má phải anh Th gây thương tích, tổn hại 11% sức khỏe. Sau khi bị thương tích anh Th đã được các cán bộ y tế của cơ sở cai nghiện ma túy cấp cứu và điều trị vết thương do anh là học viên đang cai nghiện bắt buộc nên toàn bộ chi phí cho việc chữa trị vết thương anh không phải chi trả mà do Cơ sở cai nghiện bỏ ra. Nay anh Th yêu cầu anh Ch phải bồi thường tổng thiệt hại về sức khỏe cho anh là 5.000.000 đồng. Anh Th đã nhận đủ số tiền 5.000.000 đồng do gia đình anh Ch bồi thường thay cho anh Ch tại phiên tòa, ngoài ra anh Th không yêu cầu anh Ch bồi thường thêm bất cứ khoản nào khác. Anh đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho anh Ch.

Đại diện cơ sở cai nghiện ma túy công lập tỉnh TB trình bày: Do anh Th là học viên đang cai nghiện tại cơ sở cai nghiện ma túy công lập tỉnh TB nên sau khi anh Th bị thương cán bộ của cơ sở đã khâu rửa vết thương và điều trị cho anh Th cho đến khi vết thương hồi phục. Tiền thuốc chi phí điều trị thương tích cho anh Th nằm trong cơ số thuốc mà mỗi học viện được chi trả trong năm trong quá trình cai nghiện, về việc khâu rửa vết thương do cán bộ y tế của cơ sở thực hiện, do vậy Cơ sở cai nghiện chưa yêu cầu bị cáo Ch phải hoàn trả trong vụ án này. Đại diện cơ sở cai nghiện đề nghị Hội đồng xét xử tách ra giải quyết sau.

Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ân hận về việc làm của mình trước Tòa bị cáo có lời xin lỗi tới người bị hại. Bị cáo đã tác động gia đình và hôm nay gia đình bị cáo đã mang đủ tiền bồi thường cho anh Th 5.000.000 đồng tại phiên tòa. Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét các quy định của pháp luật cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

 [1]Các tài liệu chứng cứ do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án thì thấy đã tuân thủ các quy định của pháp luật. Đó là các tài liệu hợp pháp chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Căn cứ vào các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện ĐH, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐH, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như lời khai nhân tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và hoàn toàn phù hợp với cáo trạng số39/2020/CT - VKSĐH ngày 27/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐH đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo còn phù hợp với: Lời khai của những người làm chứng, phù hợp với bản kết luận giám định pháp y về thương tích, phù hợp với lời khai của nguời bị hại, cùng toàn bộ các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.Do vậy có đủ cơ sở kết luận khoảng 06 giờ 45 phút ngày 15/02/2020, tại sân trước cửa nhà ăn của Cơ sở cai nghiện ma túy công lập tỉnh TB Nguyễn Văn Ch là học viên của Cơ sở cai nghiện đang chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân huyện TT, không có mâu thuẫn gì với anh Nguyễn Huy Th, đã có hành vi dùng lưỡi dao cạo là hung khí nguy hiểm rạch 02 phát vào vùng tai phải, gáy và má phải anh Th gây thương tích, tổn hại 11% sức khỏe.

Hành vi của Nguyễn Văn Ch đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đkhoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (với tình tiết định khung quy định tại điểm a, g, i khoản 1 Điều 134 bộ luật hình sự.

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a, Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

......

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

.....

i, Có tính chất côn đồ;

...........

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) ......

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

[3]Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của công dân, gây mất trật tự an ninh, an toàn trong cơ sở cai nghiện. Điều đó thể hiện việc coi thường pháp luật của bị cáo. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi do bị cáo gây ra.

[4]Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đã tác động gia đình khắc phục hậu quả, bồi thường xong toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởngcác tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51, và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích, lại tiếp tục phạm tội mới nên phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất mức độ hậu quả đối với hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, thể hiện tính hung hăng, côn đồ, coi thường pháp luật, gây mất trật tự an toàn trong Cơ sở cai nghiện do vậy cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

6] Về trách nhiệm dân sự: Anh Th yêu cầu bị cáo Ch bồi thường tổn hại sức khỏe số tiền 5.000.000đồnganh đã nhận đủ 5.000.000 đồng do gia đình bị cáo Ch bồi thường tại phiên tòa, không có yêu cầu bồi thường bất cứ khoản nào khác nên hội đồng xét xử không giải quyết.

Các chi phí do việc điều trị thương tích đã được Cơ sở cai nghiện ma túy công lập chi trả. Lẽ ra cần buộc Ch phải hoàn trả cho Cơ sở cai nghiện ma túy công lập, tuy nhiên Đại diện Cơ sở cai nghiện chưa yêu cầu cáo Ch phải hoàn trả nên hội đồng xét xử tách ra không giải quyết trong vụ án này. Cơ sở cai nghiện ma túy công lập tỉnh TB có quyền yêu cầu bị cáo Ch hoàn trả bằng vụ án dân sự khác .

[7]Về vật chứng của vụ án: 01 lưỡi dao cạo bị cáo Ch sử dụng gây thương tích cho anh Th là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9]Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự được kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Nguyễn Văn Ch khai chiều ngày 14/02/2020, Th và H có dùng chân tay không đánh vào vùng lưng của Ch làm Ch bị đau phần mềm, Ch không có yêu cầu đề nghị gì. Tuy nhiên Th, H và các nhân chứng có mặt khi xảy ra sự việc xác định Th và H chỉ vào can ngăn và giằng bình cứu hỏa từ tay Ch chứ không đánh Ch, ngoài lời khai của Ch không có tài liệu nào khác chứng minh nên không có căn cứ xử lý Th và H.

Đối với Vũ Văn Th2 và Nguyễn Văn D chiều ngày 14/02/2020 đã có hành vi tát Ch 02 phát vào mặt, Ch chỉ bị đau phần mềm, không có yêu cầu đề nghị gì, Công an huyện ĐH đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo đối với Th2 và D là đúng quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ch phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

- Áp dụng Điểm đ, Khoản 2 Điều 134(với tình tiết đinh khung quy định tại điểm a, g, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự)điểm b, s, khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điểm h, khoản 1 Điều 52,Điều 38 và Điều 50 Bộ luật hình sự.

- Phạt Nguyễn Văn Ch 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 21/02/2020.

3.Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 lưỡi dao cạo có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra công an huyện ĐH và chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐH ngày 15/4/2020.

5. Về án phí:Áp dụng Điều136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn Ch phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo:

Áp dụngĐiều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự báo cho bị cáo,bị hại, nguyên đơn dân sự biết,có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngàytính từ ngày tuyên án.


13
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 40/2020/HSST ngày 30/05/2020 về tội cố ý gây thương tích

Số hiệu:40/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đông Hưng - Thái Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về