Bản án 40/2020/HS-ST ngày 04/11/2020 về tội giết người

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG

BẢN ÁN 40/2020/HS-ST NGÀY 04/11/2020 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Ngày 04 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2020/TLST-HS ngày 05/10/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2020/QĐXXST-HS ngày 20/10/2020 đối với bị cáo:

Phạm Xuân Đ, sinh năm 1988 tại thành phố H, tỉnh H. Nơi cư trú: Tổ 10, phường N, thành phố H, tỉnh H; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Xuân Đ1 (đã chết năm 2004) và bà Vũ Thị Kim G, sinh năm 1955; có vợ là Nguyễn Thu H (đã ly hôn năm 2019) và có 01 con, sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 12/01/2020; có mặt.

- Bị hại: Ngô Văn V, sinh năm 1994; vắng mặt.

Trú tại: Thôn T, xã B, huyện Q, tỉnh H.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Vũ Thị Kim G, sinh năm 1955. Địa chỉ: Tổ 10, phường N, thành phố H, tỉnh H; có mặt.

- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thu H; có mặt.

Anh Phạm Ngọc P; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ, ngày 12/01/2020, Phạm Xuân Đ, trú tại tổ 10, phường N, thành phố H, đang ngồi trong nhà sử dụng điện thoại di động xem tin tức trên mạng Faceboook thì thấy anh Phạm Ngọc P, sinh năm 1988 là chủ quán cắt tóc PHÚC MILANO, thuộc tổ 18 phường N, thành phố H đăng ảnh lên Facebook với tiêu đề “Đ khách”, Đ nhìn trong ảnh thấy anh Ngô Văn V, trú tại Thôn T, xã B, huyện Q, tỉnh H đang ngồi cùng với chị Nguyễn Thu H, là vợ cũ của Đ đang ở trong quán cắt tóc của anh P. Do giữa Đ và anh V từng xảy ra mâu thuẫn trên mạng Facebook, nên Đ đi ra ngoài cửa lấy chiếc xe máy của mình mang biển kiểm soát 23B1-507.95 (trên giá để hàng xe máy có 01 con dao loại dao inox mũi bằng kích thước dài 30cm cả phần chuôi dao, phần lưỡi dao dài 16,8cm, rộng 5,8cm) đi đến quán cắt tóc tìm anh V để giải quyết mâu thuẫn. Khi đến quán cắt tóc, Đ dựng xe máy trước cửa quán và cầm theo con dao đi vào trong quán cắt tóc, thấy anh V đang đứng cạnh bàn thu ngân tì tay lên thành bàn nói chuyện với chị H ngồi phía bên kia bàn, Đ đi đến gần chỉ tay vào mặt anh V và chửi “đ… mẹ con chó này”, anh V hỏi Đ “anh thích gì?” thì Đ giơ tay trái lên túm vào cổ áo của anh V, thấy thế anh V co chân phải lên đạp vào đùi trái của Đ, Đ lùi lại một bước và cầm con dao trên tay phải giơ lên chém về phía anh V, anh V đưa tay trái lên ngang mặt để đỡ thì bị Đ chém trúng mu bàn tay trái. Thấy Đ có dao nên anh V bỏ chạy ra cửa, khi chạy ngang qua trước mặt Đ thì Đ tiếp tục giơ dao lên chém với theo trúng vào vùng chẩm đầu của V, anh P thấy vậy chạy đến phía sau ôm Đ lại can ngăn nên Đ không đuổi theo anh V nữa. Sau đó Đ bảo anh P bỏ ra rồi cầm theo con dao lên xe máy đi về nhà, khi về đến nhà Đ cất con dao vào trong ngăn giá để đồ, còn V được chị H và anh P gọi xe tắc xi đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Giang để cấp cứu.

Bệnh án ngoại khoa cấp cứu mã số: 20131 của Ngô Văn V chẩn đoán: Vào viện lúc 19 giờ 30 phút ngày 12/01/2020 do bị thương tích ở vùng chẩm 2x0,5cm và mu bàn tay trái vết thương kích thước 0,1 x 0,3cm, đứt gân duỗi ngón 3 bàn tay trái.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 10/TgT ngày 31/01/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh H, xác định:

- Vết thương 01 vùng chẩm phải kích thước trung bình: 2%;

- Vết thương 02 mu bàn tay trái kích thước trung bình: 2%;

- Vết thương 03 mu bàn tay trái kích thước nhỏ: 1%.

- Đứt gân duỗi ngón III bàn tay trái đã phẫu thuật nối gân: Chưa đánh giá Căn cứ bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT- BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 5% (năm phần trăm).

Bản kết luận giám định pháp y thương tích bổ sung số 57/TgT ngày 11/5/2020, xác định Ngô Văn V: Đứt gân duỗi nón III bàn tay trái, đã phẫu thuật nối gân. Hiện tại không ảnh hưởng đến vận động bàn, ngón tay: Không quy định xếp tỷ lệ tổn thương cơ thể.

Căn cứ bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT- BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 0% (không phần trăm).

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể tại Kết luận thương tích số 10/TgT ngày 31/01/2020 và Kết luận thương tích số 57/TgT, ngày 11/5/2020 là 5% (năm phần trăm).

Kết luận giám định số 61/20/TC-ADN, ngày 05/02/2020 của Viện Pháp y Quốc gia kết luận ADN thu từ chiếc khăn màu xanh ký hiệu M, mảnh giấy màu trắng ký hiệu M1, chiếc áo phao màu vàng ký hiệu M2 trùng khớp hoàn toàn với ADN của bị hại Ngô Văn V.

Kết luận giám định pháp y về AND số 113/20/TC-ADN ngày 30/3/2020 của Viện pháp y Quốc gia, kết luận: AND thu từ con dao (ký hiệu M3) trùng khớp với AND của Ngô Văn V.

Cáo trạng số 26/CT-VKS-P2 ngày 02/10/2020, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang truy tố bị cáo Phạm Xuân Đ về tội: "Giết người" theo khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân Đ phạm tội "Giết người", áp dụng khoản 2 Điều 123, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Xuân Đ từ 03 (ba) đến 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 12/01/2020).

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự để xử lý vật chứng.

- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh - đen - bạc, biển kiểm soát 23B1-507.95 và giấy tờ kèm theo.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, số IMEI 354379063766976, tình trạng máy đã cũ, phần kính cường lực góc trên bên phải màn hình bị vỡ; 01 (một) chiếc khăn mầu xanh, kích thước 76x32cm, có bám dính chất mầu nâu đỏ; 01 (một) áo phao mầu vàng, kích thước 80x80cm, có bám dính chất mầu nâu đỏ, 01 (một) con dao bằng kim loại mầu trắng, mũi bằng, kích thước dài 30cm cả phần chuôi dao, phần lưỡi dao dài 16,8cm, rộng 5,8cm, chuôi dao được cuốn bằng các dải băng dính mầu đen; 01 (một) con dao bằng kim loại mầu đen, loại dao mũi nhọn cán gỗ, kích thước dài 39cm cả phần chuôi dao, sống dao dài 28,3cm, bản rộng nhất 5cm.

Trong phần tranh luận, bị cáo Phạm Xuân Đ không tham gia tranh luận nội dung gì khác.

Ý kiến của bị hại Ngô Văn V: Bị hại Ngô Văn V vắng mặt tại phiên tòa, nhưng trong đơn xin vắng mặt tại phiên tòa anh V không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất cứ khoản tiền gì khác, ngoài ra anh V có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Bà Vũ Thị Kim G: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ 01 (một) con dao kim loại mầu đen, loại dao mũi nhọn cán gỗ của gia đình bà, tuy rằng bị cáo Phạm Xuân Đ không sử dụng vào việc phạm tội nhưng giá trị sử dụng không lớn nên bà không yêu cầu được nhận lại.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo chỉ có ý định mang theo con dao đi để phòng thân, vì bị cáo nhìn qua facebook trong quán của anh P có rất Đ người nhưng khi gặp anh V, bị anh V đạp vào đùi bị cáo một phát nên bị cáo đã dùng dao chém anh V. Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về làm lại cuộc đời, vì mẹ bị cáo đã già, bị cáo có 01 con còn nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa đều được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, không có khiếu nại, tố cáo, do đó hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều hợp pháp.

[2]. Về căn cứ định tội, định khung hình phạt đối với bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Phạm Xuân Đ khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung Cáo trạng đã truy tố.

[3]. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: “Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm”, bút lục 01; “ Biên bản sự việc", bút lục 02, 03; "Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh khám nghiệm hiện trường", bút lục 91 đến 93, từ 95 đến 108; “Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ”, bút lục 94; “Biên bản và bản ảnh khám xét”, bút lục 112 đến 117; “Biên bản xác minh, Biên bản làm việc tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Giang”, bút lục 134 đến 136; “Bệnh án ngoại khoa”, bút lục 137 đến 147; “Kết luận giám định pháp y thương tích, Bản ảnh giám định thương tích, Kết luận giám định thương tích bổ sung”, bút lục 150 đến 152 và 178, 179; “Bản kết luận giám định pháp y về AND, bản ảnh”, bút lục từ 157đến 161; “Biên bản nhận dạng, bản ảnh nhận dạng”, bút lục 182 đến 185; “Biên bản, bản ảnh, sơ đồ thực nghiệm điều tra”, bút lục từ 188 đến 206… [4]. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Do mâu thuẫn với nhau từ trước, nên khoảng 19 giờ, ngày 12/01/2020 sau khi biết anh Ngô Văn V đang có mặt tại quán cắt tóc PHÚC MILANO, thuộc tổ 18 phường N, thành phố H, Đ điều khiển chiếc xe máy biển kiểm soát 23B1-507.95, trên giá để hàng xe máy có 01 con dao loại dao inox mũi bằng kích thước dài 30cm cả phần chuôi dao, phần lưỡi dao dài 16,8cm, rộng 5,8cm, đi đến quán cắt tóc tìm anh V để giải quyết mâu thuẫn. Quá trình hai bên xảy ra xô sát, Đ đã cầm con dao mang theo chém anh V 02 phát, phát thứ nhất chém trúng mu bàn tay trái, phát thứ 2 trúng vào vùng chẩm đầu của V, hậu quả anh V bị tổn hại 5% sức khỏe.

[5]. Bị cáo Phạm Xuân Đ là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc dùng con dao là hung khí nguy hiểm chém vào vùng chẩm đầu của anh V là những vị trí trọng yếu trên cơ thể có thể dẫn đến chết người, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, do đó hành vi phạm tội của bị cáo thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Giết người”. Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo là có nguyên cớ, vì trước đó bị cáo và bị hại đã cãi chửi nhau trên mạng xã hội và qua điện thoại, hành vi phạm tội của bị cáo không thuộc một trong các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang truy tố bị cáo Phạm Xuân Đ về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt từ 7 đến 15 năm là có căn cứ, đúng pháp luật.

[6]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[7]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có ông ngoại là Vũ Văn H là người có công với cách mạng, năm 1997 được Chủ tịch nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, năm 1998 được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tặng thưởng Huy chương vì sự nghiệp nông thôn và phát triển nông thôn - Là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự .

[8]. Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác với lỗi cố ý trực tiếp, là khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ. Tuy rằng giữa bị cáo và người bị hại có mâu thuẫn âm ỉ từ trước, nhưng chỉ vì sự bực tức nóng nảy không kiềm chế được bản thân, bị cáo đã dùng con dao mũi bằng, kích thước dài 30cm cả phần chuôi dao là hung khí nguy hiểm để chém anh V 02 phát, trong đó phát thứ hai chém vào vùng chẩm đầu của anh V là vị trí trọng yếu trên cơ thể có thể dẫn đến chết người nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự bất chấp kỷ cương, coi thường pháp luật do vậy, cần phải xử lý bị cáo bằng hình phạt tù với mức án tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục bị cáo, đồng thời có ý nghĩa răn đe, phòng ngừa chung.

[9]. Trong vụ án này, hành vi giết người của bị cáo đã hoàn thành nhưng hậu quả chết người chưa xảy ra, vì khi bị cáo dơ dao lên chém, anh V đang trên đà bỏ chạy, tỷ lệ thương tích của anh V được cơ quan chuyên môn xác định là 5% sức khỏe, thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt nên cần áp dụng cho bị cáo Điều 15; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự để cân nhắc khi lượng hình.

[10]. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không lợi dụng nghề nghiệp, nơi cư trú của mình để phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[11]. Về phần bồi thường thiệt hại: Trong giai đoạn điều tra bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại toàn bộ số tiền 55.000.000đ (năm mươi lăm triệu đồng), tại phiên tòa bị hại vắng mặt nhưng trong đơn xin vắng mặt tại phiên tòa bị hại Ngô Văn V không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất cứ khoản chi phí nào khác, do đó Hội đồng xét xử không giải quyết.

[12]. Về vật chứng cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo những tài sản, đồ vật bị cáo không sử dụng làm công cụ, phương tiện để phạm tội gồm: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave (Anpha), màu sơn xanh - đen - bạc, biển kiểm soát 23B1-507.95 cùng các loại giấy tờ có liên quan kèm theo; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, số IMEI 354379063766976, tình trạng máy đã cũ, phần kính cường lực góc trên bên phải màn hình bị vỡ. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc khăn màu xanh, kích thước 76x32cm, có bám dính chất màu nâu đỏ; 01 (một) áo phao màu vàng, kích thước 80x80cm, có bám dính chất màu nâu đỏ; 01 (một) con dao bằng kim loại màu trắng, mũi bằng, kích thước dài 30cm cả phần chuôi dao, phần lưỡi dao dài 16,8cm, rộng 5,8cm, chuôi dao được cuốn bằng các dải băng dính màu đen; 01 (một) con dao bằng kim loại màu đen, loại dao mũi nhọn cán gỗ, kích thước dài 39cm cả phần chuôi dao, sống dao dài 28,3cm, bản rộng nhất 5cm.

13]. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[14]. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân Đ phạm tội "Giết người".

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Xuân Đ 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, (ngày 12/01/2020).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý toàn bộ vật chứng sau:

- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave (Anpha), màu sơn xanh - đen - bạc, biển kiểm soát 23B1-507.95, có số máy: JA39E- 0924633, số khung: RLHJA3914KY068434, xe không có gương chiếu hậu, xe đã cũ đã qua sử dụng; 01 chứng nhận đăng ký xe có ghi số: 054539, tên chủ xe Thào Mí Cò, biển số đăng ký 23B1-507.95 do Công an tỉnh Hà Giang cấp ngày 04/4/2019; 01 giấy phép lái xe có ghi số 020094001921, mang tên Phạm Xuân Đ, do Sở giao thông vận tải tỉnh Hà Giang cấp ngày 27/12/2017; 01 giấy bán, cho, tặng xe biển số 23B1-507.95 lập ngày 5/7/2019; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu đen, số IMEI 354379063766976, điện thoại bị xước nhiều chỗ, phần kính cường lực góc trên bên phải màn hình bị vỡ, tình trạng máy đã cũ, không bật nguồn.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc khăn màu xanh, kích thước 76x32cm, có bám dính chất màu nâu đỏ; 01 (một) áo phao màu vàng, kích thước 80x80cm, có bám dính chất màu nâu đỏ; 01 (một) con dao bằng kim loại màu trắng, mũi bằng, kích thước dài 30cm cả phần chuôi dao, phần lưỡi dao dài 16,8cm, rộng 5,8cm, chuôi dao được cuốn bằng các dải băng dính màu đen; 01 (một) con dao bằng kim loại màu đen, loại dao mũi nhọn cán gỗ, kích thước dài 39cm cả phần chuôi dao, sống dao dài 28,3cm, bản rộng nhất 5cm.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/10/2020 giữa Công an tỉnh Hà Giang và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Giang).

5. Về án phí: Áp dụng điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Phạm Xuân Đ phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

"Tờng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.


1
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về