Bản án 40/2020/DS-ST ngày 24/08/2020 về tranh chấp nợ hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 40/2020/DS-ST NGÀY 24/08/2020 VỀ TRANH CHẤP NỢ HỤI 

Trong ngày 24 tháng 8 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 197/2019/TLST-DS, ngày 19 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp nợ hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2020/QĐXXST-DS, ngày 31 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Ngô Kim H, sinh năm 1976 (có mặt);

Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Út B - sinh năm 1987 (có mặt); Anh Phạm Văn V – sinh năm 1980 (có đơn xin vắng mặt); Cùng địa chỉ: ấp H, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 08/10/2019, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Ngô Kim H trình bày:

Thời gian vào năm 2017, chị có làm chủ hụi, chị Nguyễn Thị Út B có tham gia chơi nhiều dây hụi do chị áp, gồm các dây hụi sau:

- Dây hụi 2.000.000đ: Áp ngày 29/8/2017 al, có 24 chân, một tháng xổ một lần vào ngày 29 hàng tháng, hình thức ai kêu cao người đó hốt, chủ hụi sẽ được hưởng hoa hồng một nửa số tiền áp. Dây hụi này chị B chơi 02 chân và đã hốt hết, dây hụi này đã mãn, chị B đã đóng được 23 lần, còn nợ lại một lần chưa đóng với số tiền 4.000.000đ.

- Dây hụi 1.000.000đ: Áp ngày 20/02/2017 al, có 30 chân, 10 ngày xổ một lần vào ngày 10, 20, 30 hàng tháng, hình thức ai kêu cao người đó hốt, chủ hụi sẽ được hưởng hoa hồng một nửa số tiền áp. Dây hụi này chị B chơi 02 chân và đã hốt hết, dây hụi này đã mãn, chị B đã đóng được 15 lần, còn nợ lại 15 lần chưa đóng với số tiền 15.000.000đ.

- Dây hụi 5.000.000đ: Áp ngày 15/7/2018 al, có 25 chân, một tháng xổ một lần vào ngày 15 hàng tháng, hình thức ai kêu cao người đó hốt, chủ hụi sẽ được hưởng hoa hồng một nửa số tiền áp. Dây hụi này chị B chơi 01 chân và đã hốt hết, dây hụi này đến tháng 7/2020 al mới mãn nhưng hụi xổ đến lần thứ 13 thì ngưng do nhiều hụi viên không đóng lại hụi chết nên ngưng hụi vào tháng 9/2019. Dây hụi này chị B đã đóng được 12 lần, còn nợ lại 12 lần chưa đóng với số tiền 60.000.000đ.

- Dây hụi 3.000.000đ: Áp ngày 06/9/2018 al, có 25 chân, một tháng xổ một lần vào ngày 06 hàng tháng, hình thức ai kêu cao người đó hốt, chủ hụi sẽ được hưởng hoa hồng một nửa số tiền áp. Dây hụi này chị B chơi 03 chân và đã hốt hết 02 chân, còn lại 01 chân sống, dây hụi này đến tháng 7/2020 al mới mãn nhưng hụi xổ đến lần thứ 12 thì ngưng do nhiều hụi viên không đóng lại hụi chết nên ngưng hụi vào tháng 9/2019. Dây hụi này chị B đã đóng được 11 lần, còn nợ lại 11 lần chưa đóng với số tiền 66.000.000đ (02 x 3.000.000đ x 11 lần). Do chị B còn 01 chân hụi sống đã đóng được 11 lần với số tiền 33.000.000đ nên bà khấu trừ hụi sống và hụi chết thì số tiền chị B còn nợ lại của dây hụi này là 33.000.000đ.

- Dây hụi 500.000đ: Áp ngày 21/01/2019 al, có 31 chân, một tuần xổ một lần vào ngày thứ 3 hàng tuần, hình thức ai kêu cao người đó hốt, chủ hụi sẽ được hưởng hoa hồng một nửa số tiền áp. Dây hụi này chị B chơi 02 chân và đã hốt hết, dây hụi này đã mãn, chị B đã đóng được 26 lần, còn nợ lại 05 lần chưa đóng với số tiền 5.000.000đ.

Tổng cộng 03 dây hụi trên, chị B còn nợ lại chị số tiền 130.000.000đ. Tuy nhiên, do chị B không đồng ý trả theo hụi chết mà xin được trả bằng giá hụi vốn với số tiền là 87.730.000đ và chị cũng không có chứng cứ chứng minh chị B còn nợ chị 130.000.000đ vì lúc đóng hụi, chung hụi chị không có làm biên nhận, sổ sách chị tự theo dõi không có chữ ký xác nhận của chị B nên chị đồng ý cho chị B trả bằng giá hụi vốn là 87.730.000đ nhưng yêu cầu trả đủ một lần.

Tại phiên tòa, chị Ngô Kim H xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu vợ chồng chị B phải trả số tiền 42.270.000đ. Đồng thời, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị Nguyễn Thị Út B cùng chồng là anh Phạm Văn V phải trả cho chị đủ một lần số tiền hụi là 87.730.000đ, ngoài ra không yêu cầu gì thêm.

Đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên của nguyên đơn, tại bản tự khai ngày 24/01/2020, Biên bản hòa giải ngày 11/5/2020, Biên bản ghi lời khai ngày 14/5/2020 và tại phiên tòa, bị đơn chị Nguyễn Thị Út B trình bày:

Chị B thừa nhận: Chị có tham gia chơi hụi do chị H làm chủ. Chị cũng thống nhất lời trình bày của chị H về: ngày tháng áp hụi, ngày tháng xổ hụi cũng như ngày ngừng xổ hụi, số tiền cụ thể của từng dây, số hụi viên của từng dây hụi, số chân hụi chị tham gia chơi, số chân hụi đã hốt và số chân hụi chị còn nợ chưa đóng trong từng dây hụi. Tuy nhiên, số tiền 130.000.000đ mà chị H yêu cầu chị phải trả là hụi chết (tiền hụi đã có tính lãi) nhưng hiện nay hoàn cảnh gia đình chị quá khó khăn nên chị xin được trả bằng giá hụi vốn vì các dây hụi trên chị H đã ngưng xổ và chị H cũng trả cho các hụi viên chưa hốt bằng giá vốn, cụ thể như sau:

- Dây hụi tháng 2.000.000đ, áp ngày 29/8/2017 đồng ý trả 2.400.000đ;

- Dây hụi 10 ngày 1.000.000đ, áp ngày 20/02/2017 đồng ý trả 17.380.000đ;

- Dây hụi tháng 5.000.000đ, áp ngày 15/7/2017 đồng ý trả 41.800.000đ;

- Dây hụi tháng 3.000.000đ, áp ngày 06/9/2018 đồng ý trả 21.900.000đ;

- Dây hụi tuần 500.000đ, áp ngày 21/01/2019 đồng ý trả 4.290.000đ.

Tồng cộng số tiền nợ hụi chị xin được trả bằng giá hụi vốn là 87.730.000đ. Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Út B đồng ý trả cho chị Ngô Kim H số tiền hụi là 87.730.000đ và xin trả dần mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi hết nợ. Chị B xác định mục đích chị tham gia chơi hụi là để góp vốn cất nhà, chi xài trong gia đình và lo cho con ăn học.

Tại bản tự khai ngày 10/4/2020, anh Phạm Văn V là chồng chị Nguyễn Thị Út B trình bày: Anh không biết việc chị B có tham gia chơi hụi do chị H làm chủ cho đến khi chị H bể hụi và đến thống báo với anh là vợ anh còn một số chân hụi chưa đóng. Vì vậy, anh không đồng ý cùng chị B trả số tiền nợ hụi cho chị H.

Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp nợ hụi” là đúng quy định và thuộc thẩm quyền giải quyết. Từ khi thụ lý đến khi xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các bước tiến hành tố tụng đúng theo quy định, tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Hai bên đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, có vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án nên cần rút kinh nghiệm.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 471, 688 Bộ luật dân sự 2015, Điều 24 Nghị định 19/2019/NĐ-CP, ngày 19/02/2019 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường.; khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu bị đơn phải trả số tiền 42.270.000đ. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Kim H buộc chị Nguyễn Thị Út B và anh Phạm Văn V phải có nghĩa vụ trả cho chị H số tiền nợ hụi là 87.730.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm nên chị Ngô Kim H khởi kiện chị Nguyễn Thị Út B và anh Phạm Văn V về việc “Tranh chấp nợ hụi” được Tòa án thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 3 Điều 26 và Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Anh Phạm Văn V với tư cách là bị đơn có đơn đề nghị vắng mặt. Xét việc vắng mặt này không gây trở ngại khi xét xử vụ án, căn cứ Điều 228 BLTTDS vụ án vẫn được xét xử theo quy định.

[2] Về nội dung: Thời gian vào năm 2017 đến năm 2019, giữa chị Ngô Kim H và chị Nguyễn Thị Út B có thỏa thuận góp hụi với nhau, chị H làm chủ hụi, chị B là thành viên trong các dây hụi: Dây hụi tháng 2.000.000đ, áp ngày 29/8/2017, dây hụi 10 ngày 1.000.000đ, áp ngày 20/02/2017, dây hụi tháng 5.000.000đ, áp ngày 15/7/2017, dây hụi tháng 3.000.000đ, áp ngày 06/9/2018 và dây hụi tuần 500.000đ, áp ngày 21/01/2019. Trong số các dây hụi trên có 03 dây hụi đã mãn còn lại dây hụi 5.000.000đ và dây hụi 3.000.000đ chưa mãn nhưng chị H ngưng xổ hụi. Quá trình chơi hụi, chị B đã hốt hết chỉ còn lại một chân hụi sống của dây hụi 3.000.000đ, tuy nhiên, từ khi hốt hụi đến nay chị B không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ góp hụi của các dây hụi đã hốt nên chị H khởi kiện đòi lại số tiền nợ hụi là 130.000.000đ (số tiền này chị H tính trên cơ sở đã khấu trừ tiền hụi chị B đã đóng trong đó có một chân hụi sống). Xét về nội dung và hình thức hợp đồng góp hụi như trên giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp theo Điều 471 Bộ luật Dân sự 2015 nên phát sinh hiệu lực thi hành.

[3] Tại phiên Tòa, chị H xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu vợ chồng chị B phải trả số tiền 42.270.000đ. Xét việc tự nguyện rút 01 phần yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn là phù hợp nên căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, chấp nhận đình chỉ một phần yêu cầu này của nguyên đơn.

[3] Xét yêu cầu của chị H buộc vợ chồng chị B và anh V phải trả số tiền nợ hụi còn nợ lại là 87.730.000đ. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị B đều thừa nhận còn nợ chị H số tiền trên nhưng hẹn trả dần mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi hết nợ. Còn anh V thì cho rằng anh không biết việc vợ anh chơi hụi của chị H nên anh không đồng ý cùng chị B thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chị H. HĐXX thấy rằng, chị B đã hốt hụi nhưng không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ góp hụi theo đúng cam kết là đã vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 16 Nghị định 19/2009/NĐ-CP, ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường và yêu cầu xin trả nợ dần của chị cũng không được chị H đồng ý cho nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H. Tuy nhiên, việc anh V cho rằng anh không biết việc vợ anh chơi hụi của chị H nên không đồng ý cùng chị B thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chị H là không có căn cứ bởi lẽ: Số tiền hụi chị B đã hốt của chị H là để chi xài trong gia đình, nuôi con chung của anh chị ăn học, đối chiếu quy định tại Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì anh V phải có nghĩa vụ liên đới cùng với chị B trả cho chị H số tiền nợ hụi 87.730.000đ là phù hợp với quy định tại Điều 24 Nghị định 19/2009/NĐ-CP, ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.

[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Út B và anh Phạm Văn V phải chịu án phí dân sự có giá ngạch là 4.386.500đ (87.730.000đ x 5%) do anh chị có lỗi trong vụ kiện này.

Chị Ngô Kim H được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 288 và khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 471 và Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Điều 16 và Điều 24 Nghị định số 19/2019/NĐ- CP, ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Kim H về việc yêu cầu bị đơn phải trả số tiền 42.270.000đ.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Kim H.

Buộc chị Nguyễn Thị Út B, anh Phạm Văn V có nghĩa vụ trả cho chị Ngô Kim H số tiền 87.730.000đ (tám mươi bảy triệu, bảy trăm ba mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày chị H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị B, anh V không trả đủ số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Út B, anh Phạm Văn V phải chịu án phí có giá ngạch là 4.386.500đ (bốn triệu, ba trăm tám mươi sáu nghìn, năm trăm đồng).

Chị Ngô Kim H không phải nộp án phí và được nhận lại số tiền 3.490.000đ (ba triệu, bốn trăm chín mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005845, ngày 19/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Kiên Giang.

4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/8/2020). Đương sự vắng mặt tại phiên thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 9 Luật thi hành án dân sự và các Điều 7, 7a, 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


3
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 40/2020/DS-ST ngày 24/08/2020 về tranh chấp nợ hụi

Số hiệu:40/2020/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Gò Quao - Kiên Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:24/08/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về