Bản án 40/2019/HNGĐ-ST ngày 07/06/2019 về tranh chấp ly hôn, chia tài sản khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 40/2019/HNGĐ-ST NGÀY 07/06/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN

Trong ngày 07 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 210/2019/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2019 về tranh chấp “ly hôn, chia tài sản khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1973; Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã G, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; Có mặt.

- Bị đơn: Chị Võ Thị Y, sinh năm 1975; Địa chỉ: Ấp L, xã G, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguY đơn anh Nguyễn Văn Ph trình bày: Anh và chị Y chung sống với nhau vào năm 1995, không tổ chức lễ cưới, không đăng ký kết hôn. Sau khi xây dựng với nhau anh chị về sống chung với cha mẹ anh được 03 năm thì anh chị ra sống riêng và anh làm bảo vệ, chị Y làm công nhân ở khu công nghiệp. Anh chị sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh chị bất đồng quan điểm sống, cuộc sống vợ chồng thường xuY gây cãi và chị Y đã dọn ra ngoài sống riêng. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh và chị Y được ly hôn.

Con chung: Nguyễn Thị Diệu Ch, sinh năm 1996, đã có chồng và sống riêng với chồng; Nguyễn Quốc Th, sinh năm 1999, đang thực hiện nghĩa vụ quân sự ở huyện Bến Cầu. Các con đã trưởng thành nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tài sản chung: Anh chị đã thỏa thuận giải quyết xong, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn chị Võ Thị Y trình bày: Nhận thấy thống nhất với lời trình bày của anh Ph về thời gian chung sống, con chung, tài sản chung, nợ chung. Nguyên nhân mâu thuẫn của là do tình cảm của anh chị không còn, cuộc sống hôn nhân luôn gây cãi nhau, chị đã thuê nhà trọ ở riêng, không còn sống chung với anh Ph. Nay chị đồng ý ly hôn với anh Ph.

Về con chung: Đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết. Chị xin rút lại 02 đơn khởi kiện yêu cầu Cha tài sản khi ly hôn đối với anh Nguyễn Văn Ph.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng:

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Thẩm phán chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn; Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự.

2. Việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng tuyên xử:

Về hôn nhân: Không công nhận anh Ph và chị Y là vợ chồng.

Về con chung: Đã trưởng thành nên không giải quyết.

Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về hôn nhân: Chị Y và anh Ph tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1995 nhưng không có đăng ký kết hôn, không thuộc trường hợp được xem là hôn nhân thực tế, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, do đó căn cứ Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình và điểm c khoản 3 Nghị quyết 35/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội, tuyên bố không công nhận anh Ph và chị Y là vợ chồng.

[2] Về con chung: Đã thành niên, có khả năng lao động và đều có việc làm để tự nuôi bản thân nên không đặt ra giải quyết.

[3] Về Cha tài sản: Chị Y và anh Ph không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết. Chị Y rút yêu cầu chia tài sản là tự nguyện do đó cần đình chỉ yêu cầu chia tài sản khi ly hôn của chị Y.

[4] Nợ chung: Không có nên không đặt ra giải quyết.

[5] Án phí: Anh Ph phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 14, Điều 15, Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm c khoản 3 Nghị quyết 35/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội; Điều 27 của Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Không công nhận anh Nguyễn Văn Ph và chị Võ Thị Y là vợ chồng.

2. Về con chung: Nguyễn Thị Diệu Ch, sinh năm 1996 và Nguyễn Quốc Th, sinh năm 1999, đều đã thành niên, có khả năng lao động và đều có việc làm để tự nuôi bản thân nên không đặt ra giải quyết.

3. Về Cha tài sản và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Y về việc chia tài sản khi ly hôn đối với anh Nguyễn Văn Ph.

4. Về án phí:

- Anh Ph phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà anh Ph đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016969 ngày 20/3/2019 của Ch cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Anh Ph đã nộp đủ án phí.

- Hoàn trả cho chị Võ Thị Y 2.150.000 (Hai triệu một trăm năm mười nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo các biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016994 ngày 27/3/2019, 0017119 ngày 03/5/2019 của Ch cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

5. Quyền kháng cáo: Anh Ph, chị Y được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 40/2019/HNGĐ-ST ngày 07/06/2019 về tranh chấp ly hôn, chia tài sản khi ly hôn

Số hiệu:40/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trảng Bàng - Tây Ninh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:07/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về