Bản án 40/2019/DS-ST ngày 10/04/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

 TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 40/2019/DS-ST NGÀY 10/04/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 10 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 739/2018/TLST-DS ngày 25 tháng 12 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2019/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V.

Địa chỉ trụ sở: Tầng 2, Tòa nhà R, số 9 – Đoàn Văn B, phường 12, Quận 4,Thành phố H.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lô Bằng G – Chủ tịch Hội đồng thành viên.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị Mỹ H – Trưởng nhóm tố tụng

- Phòng thu hồi nợ pháp lý – Trung tâm thu hồi nợ - Công ty TNHH MTV Ngân hàng V.

(Văn bản ủy quyền số 80/UQ-VH.18 ngày 13/6/2018)Ủy quyền lại cho: Chị Nguyễn Kim T, sinh năm 1996.

Địa chỉ: Ấp Bình L, xã Hòa Khánh Đ, huyện Đ, tỉnh L. Văn bản ủy quyền số 1254/UQTA-VH.18 ngày 30/10/2018)

- Bị đơn: Chị Đặng Thị Trúc P, sinh năm 1987.

Địa chỉ: 21/6H, Ô 3 – khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh L.(Chị T và chị P xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 31 tháng 10 năm 2018, đơn khởi kiện bổ sung ngày 06 tháng 3 năm 2019 và lời khai của chị Nguyễn Kim T đại diện cho Công ty tài chính Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V trình bày như sau:

Vào ngày 11/8/2015, chị Đặng Thị Trúc P có ký hợp đồng tín dụng số 20150811- 103023-0001 với Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V để vay số tiền 34.597.324 đồng với lãi suất 3,75%/tháng. Theo thỏa thuận trong hợp đồng thì chị P phải thanh toán số tiền gồm gốc và lãilà 63.606.000 đồng theo hình thức trả hàng tháng, thời gian trả là 36 tháng, mỗi tháng trả 1.767.000 đồng, tháng cuối cùng trả 1.761.000 đồng và thời gian bắtđầu trả từ ngày 12/9/2015.

Từ khi vay cho đến nay, chị P chỉ thanh toán cho Công ty tài chính được 09 tháng với tổng số tiền 14.936.000 đồng nên còn nợ lại 48.670.000 đồng. Vì vậy, Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V khởi kiện yêu cầu chị Đặng Thị Trúc P phải thanh toán cho Công ty số tiền nợ đến hạn là 48.670.000 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 29.508.677 đồng, tiền nợ lãi là19.161.323 đồng và trả 01 lần khi quyết định hoặc bản án của Tòa án có hiệu lực.

Chị Đặng Thị Trúc P là bị đơn trình bày: Chị thừa nhận có vay của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V số tiền gốc và lãi như Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V trình bày, đồng thời xác định hiện nay chị còn nợ Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V số tiền gốc và lãi 48.670.000 đồng, chị đồng ý trả số tiền 48.670.000 đồng cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V nhưng xin giảm hết tiền nợ lãi và trả dần tiền nợ gốc mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.

Tại phiên tòa, chị Nguyễn Kim T đại diện Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V và chị Đặng Thị Trúc P đều xin xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1]. Về tố tụng:

1.1. Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V yêu cầu chị Đặng Thị Trúc P trả tiền nợ vay là thuộc quan hệ pháp luật tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”.

1.2. Chị Đặng Thị Trúc P là bị đơn có địa chỉ tại 21/6H Ô 3 – khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh L nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm khoản 1Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

1.3. Chị Nguyễn Kim T và chị Đặng Thị Trúc P có yêu cầu xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T và chị P theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

 [2]. Về thời hiệu khởi kiện: Theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “Thời hiệu khởi kiện…tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm”. Từ ngày 16/8/2018, chị Đặng Thị Trúc P không thanh toán tiền gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng đã thỏa thuận. Ngày 31/10/2018 Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V khởi kiện yêu cầu thanh toán số tiền gốc và lãi nên thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng vẫn còn.

[3]. Về nội dung:

3.1. Theo thỏa thuận giữa Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V với chị Đặng Thị Trúc P thì chị P có nghĩa vụ thanh số tiền vay hàng tháng và tổng cộng thanh toán là 36 tháng nhưng đến nay chị P chỉ thanh toán cho Công ty tài chính chỉ 09 tháng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V yêu cầu chị P trả số tiền còn nợ là có căn cứ.

3.2. Chị Đặng Thị Trúc P vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời trình bày xác nhận còn nợ của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V là 48.670.000 đồng, chị đồng ý trả số tiền này nhưng xin giảm hết tiền nợ lãi và trả dần tiền nợ gốc mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.

Mặc khác, chị T đại diện cho Công ty vắng mặt tại phiên tòa nhưng chị có lời trình bày chị P còn nợ Công ty số tiền 48.670.000 đồng và yêu cầu chị P có trách nhiệm trả một lần cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V số tiền 48.670.000 đồng nên buộc chị Đặng Thị Trúc P có nghĩa vụ trả cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V số tiền còn nợ tổng cộng là 48.670.000 đồng là phù hợp theo quy định Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự và Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 của Quốc Hội 12.

[4]. Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V không yêu cầu tính lãi suất phát sinh từ ngày khởi kiện cho đến ngày xét xử sơ thẩm và không yêu cầu lãi suất chậm thi hành đối với nghĩa vụ trả tiền nên Tòa án không xem xét là phù hợp.

[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Đặng Thị Trúc P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều39, Điều 144, Điều 147, Điều 186, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 củaBộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào các Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 91, Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng số: 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 của Quốc Hội 12;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V do chị Nguyễn Kim T đại diện theo ủy quyền về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” đối với chị Đặng Thị Trúc P.

Buộc chị Đặng Thị Trúc P phải trả cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V số tiền gốc 29.508.677 đồng, tiền lãi là19.161.323 đồng, tổng cộng là 48.670.000 đồng (Bốn mươi tám triệu sáu trăm bảy mươi ngàn đồng) sau khi án có hiệu lực pháp luật.

2. Án phí: Buộc chị Đặng Thị Trúc P phải chịu 2.433.500 đồng (Hai triệu bốn trăm ba mươi ba ngàn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V đã nộp là 1.217.000 đồng (Một triệu hai trăm mười bảy ngàn đồng) theo biên lai thu số 0003907 ngày 21/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.

Đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tạiĐiều 30 Luật thi hành án dân sự”. 


99
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 40/2019/DS-ST ngày 10/04/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:40/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 10/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về