Bản án 399/2019/HS-ST ngày 20/11/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 399/2019/HS-ST NGÀY 20/11/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 20 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 252/2019/HS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 254/2019/HSST-QĐ ngày 08 tháng 8 năm 2019 và Thông báo mở lại phiên tòa số 03/2019/TB-TA ngày 01 tháng 10 năm, Quyết định hoãn phiên tòa số 112/2019/HSST-QĐ ngày 28 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Thạch Ph, sinh năm 1982 tại tỉnh Sóc Trăng; thường trú: Ấp Tr B, xã Tr Kh, huyện L Ph, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở: Số 177, đường C, tổ C, khu phố Nh Đ 2, phường D A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Khơ me; tôn giáo: Không; con ông Thạch S, sinh năm 1956 và bà Lý Thị Ng, sinh năm 1966; bị cáo có 03 em ruột, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1993; bị cáo có vợ tên là Thạch Thị Y, sinh năm 1985; bị cáo có 01 con ruột, sinh năm 2009; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 30/3/2019, bị Công an thị xã D A, tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc; bị bắt tạm giữ từ ngày 25/4/2019 đến ngày 04/5/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Võ Văn L, sinh năm 1981; thường trú: Số 769/169 đường Ph Th H, Phường B, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số 37C/60 khu phố B Đ 4, phường A B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

2. Ông Trần Văn Ph1, sinh năm 1984; thường trú: Số 3/8, ấp T Ph, xã T Th, huyện Gi Tr, tỉnh Bến Tre; chỗ ở: Tổ C, khu phố Nh Đ 2, phường D A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

3. Ông Phạm Khắc D, sinh năm 1989; thường trú: Thôn B, xã Qu L, huyện Y Đ, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở: Khu phố B Đ 4, phường A B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

4. Ông Bùi Văn T, sinh năm 1974; thường trú: Ấp Tr Ph, xã A M, huyện K S, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở: Khu phố B Đ 4, phường A B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Người chứng kiến: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1985; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 30/3/2019, Thạch Ph bị Công an thị xã D A, tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng, chưa được xóa tiền sự. Khoảng 18 giờ ngày 25/4/2019, Võ Tấn L mang theo 03 bộ bầu cua tôm cá đến địa chỉ tổ C, khu phố Nh Đ 2, phường D A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương. Khi đến nơi L rủ Ph đánh bạc dưới hình thức là Ph cầm cái lắc bầu cua tôm cá thắng thua bằng tiền để Võ Tấn L, Phạm Khắc D, Trần Văn Ph1, Bùi Văn T tham gia chơi, mỗi ván đặt từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng. L nói cho Ph biết đã gắn chíp trong hột bầu cua, Ph đứng ra cầm cái lắc bầu cua tôm cá, còn L sẽ cùng con bạc chơi và ra hiệu cho Ph biết trước khi mở bát. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc Ph, L, D, Ph1 và T đang tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền thì bị lực lượng Công an phường D A kết hợp Đội Cảnh sát hình sự Công an thị xã D A kiểm tra phát hiện nên lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và thu giữ tiền tiền tang 1.180.000 đồng, 01 dĩa nhựa, 01 hộp nhựa hình tròn, 03 bộ bầu cua tôm cá, 01 máy cảm ứng rung màu đen có ăng ten.

Qua thu thập tài liệu, chứng cứ và kết quả điều tra xác định được Thạch Ph, Võ Tấn L, Phạm Khắc D, Trần Văn Ph1, Bùi Văn T tham gia Đánh bạc cụ thể như sau:

- Thạch Ph được L đưa cho 200.000 đồng để sử dụng đánh bạc và Ph là người cầm cái lắc bầu cua tôm cá. Quá trình chơi thắng 130.000 đồng, khi bị bắt giữ thu giữ tại chiếu bạc 330.000 đồng.

- Võ Tấn L là người đưa 03 bộ bầu cua tôm cá cho Thạch Ph để đánh bạc dưới hình thức lắc bầu cua tôm cá thắng thua bằng tiền và L đưa 200.000 đồng cho Phol, còn lại 100.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc. Quá trình chơi không thắng, không thua và khi bị bắt thu giữ trong người 100.000 đồng.

- Phạm Khắc D mang theo và sử dụng 950.000 đồng để đánh bạc. Quá trình chơi thua 50.000 đồng, khi bị bắt thu giữ trên chiếu bạc 750.000 đồng và trong túi quần 250.000 đồng.

- Trần Văn Ph1 mang theo và sử dụng 781.000 đồng để đánh bạc. Quá trình chơi thắng 100.000 đồng, khi bị bắt thu giữ trên chiếu bạc 100.000 đồng và thu giữ trong túi quần 781.000 đồng.

- Bùi Văn T mang theo và sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc. Quá trình chơi thua 280.000 đồng, khi bị bắt thu giữ trong túi quần 220.000 đồng.

Tng số tiền Thạch Ph, Võ Tấn L, Phạm Khắc D, Bùi Văn T, Trần Văn Ph1 sử dụng vào việc đánh bạc là 2.531.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: 01 dĩa nhựa, 01 hộp nhựa hình tròn, 03 bộ bầu cua tôm cá, 01 máy cảm ứng rung màu đen có ăng ten, tiền tang tại chiếu bạc 1.180.000 đồng và thu giữ trong người Thạch Ph, Võ Tấn L, Phạm Khắc D, Bùi Văn T, Trần Văn Ph là 1.351.000 đồng.

Đi với ông Võ Tấn L, Phạm Khắc D, Bùi Văn T, Trần Văn Ph tham gia đánh bạc với tổng số tiền sử dụng đánh bạc 2.531.000 đồng, không đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An không xử lý hình sự và ra Quyết định xử phạt hành chính mỗi người 1.500.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ.

Tại Bản cáo trạng số: 272/CT-VKS ngày 29 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Thạch Ph phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đồng thời đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Thạch Ph từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

* Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 dĩa nhựa, 01 hộp nhựa hình tròn, 03 bộ bầu cua tôm cá, 01 máy cảm ứng rung màu đen có ăng ten là tang vật sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- Đối với số tiền 2.531.000 đồng bị cáo Thạch Ph cùng với Võ Tấn L, Phạm Khắc D, Bùi Văn T, Trần Văn Ph sử dụng vào việc đánh bạc nên đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, do bị cáo vắng mặt nên không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt và xử lý vật chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Khoảng 18 giờ ngày 25/4/2019, tại tổ C, khu phố Nh Đ 2, phường D A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương. Thạch Ph, Võ Tấn L, Phạm Khắc D, Bùi Văn T, Trần Văn Ph rủ nhau đánh bạc dưới hình thức lắc bầu cua tôm cá thắng thua bằng tiền, mỗi ván đặt từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng. Tổng số tiền dùng đánh bạc là 2.531.000 đồng.

[3] Như vậy, hành vi của bị cáo Thạch Ph đánh bạc dưới hình thức lắc bầu cua tôm cá thắng thua bằng tiền, tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc 2.531.000 đồng, tuy số tiền không đủ truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc chưa được xóa tiền sự nay bị cáo lại tiếp tục vi phạm nên đã đủ yếu tố cấu thành về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số: 272/CT-VKS-DA ngày 29 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy ít nghiêm trọng, nhưng đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được đánh bạc dưới mọi hình thức ăn thua bằng tiền nhằm sát phạt lẫn nhau đều vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Trong quá trình xét xử, bị cáo đã bỏ trốn gây khó khăn cho các Cơ quan tiến hành tố tụng, thể hiện sự không ăn năn hối cải của bị cáo nên bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[7] Về nhân thân: Bị cáo là người có tiền sự về hành vi đánh bạc, chưa được xóa tiền sự nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, bị cáo là người dân tộc thiểu sổ, bản thân bị cáo là người không biết chữ nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[8] Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có tiền sự về hành vi đánh bạc chưa được xóa tiền sự nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội đồng thời trong quá trình xét xử bị cáo đã bỏ trốn gây khó khăn cho các Cơ quan tiến hành tố tụng chứng tỏ bị cáo là người xem thường pháp luật nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành những công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, bị cáo người không có nghề nghiệp ổn định, áp dụng hình phạt tù cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng:

- Xét 01 dĩa nhựa, 01 hộp nhựa hình tròn, 03 bộ bầu cua tôm cá, 01 máy cảm ứng rung màu đen có ăng ten là tang vật sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Xét số tiền 2.531.000 đồng bị cáo Thạch Ph cùng với Võ Tấn L, Phạm Khắc D, Bùi Văn T, Trần Văn Ph sử dụng vào việc đánh bạc nên đề cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

[10] Đối với ông Võ Tấn L, Phạm Khắc D, Bùi Văn T, Trần Văn Ph tham gia đánh bạc với tổng số tiền sử dụng đánh bạc 2.531.000 đồng, không đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D A không xử lý hình sự và ra Quyết định xử phạt hành chính mỗi người 1.500.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ là đúng quy định của pháp luật.

[11] Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[12] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Thạch Ph phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Thạch Ph 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 25/4/2019 đến ngày 04/5/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 2.531.000 (hai triệu năm trăm ba mươi mốt nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 01226 ngày 31 tháng 7 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Tịch thu tiêu hủy 01 dĩa nhựa, 01 hộp nhựa hình tròn, 03 bộ bầu cua tôm cá, 01 máy cảm ứng rung màu đen có ăng ten.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/7/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An với Chi cục thi hành án dân sự D A, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Thạch Ph phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.


27
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về