Bản án 39/2019/HNGĐ-ST ngày 15/05/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 39/2019/HNGĐ-ST NGÀY 15/05/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 15 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 44/2019/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 28/2019/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1986; thường trú: Số 9/11 khu phố T B, phường Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Trương D, sinh năm 1980; thường trú: Số 9/11 khu phố T B, phường Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Văn T, sinh năm 1953 và bà Lê Thị H, sinh năm 1954; cùng thường trú: Số 9/11 khu phố T B, phường Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 1981; thường trú: Ấp B B, xã C B, thành phố C R, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở: Số 61/6 đường L Th K, khu phố Đông T, phường D A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/10/2018 và lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim C và anh Trương D có thời gian tìm hiểu khoản 06 tháng thì tiến hành tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ H, huyện D A (nay là phường Đ H, thị xã D A), tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 57/KH/2004, quyển số 01 cấp ngày 13/4/2004. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị C sinh sống tại số 9/11 khu phố T B, phường Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu chị C và anh D sống rất hạnh phúc. Đến năm 2018, hai bên bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng thường xuyên cãi vả nhau, bất đồng quan điểm sống, chồng chị C đuổi chị ra khỏi nhà, hiện vợ chồng sống ly thân từ tháng 7/2018 cho đến nay. Nay chị C xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu ly hôn với anh Trương D.

Về con chung: Quá trình chung sống chị C và anh D có 01 con chung tên Trương Thanh B, sinh ngày 21/10/2004. Sau khi ly hôn, chị Nguyễn Thị Kim C yêu cầu giao con chung cho anh Trương D trực tiếp nuôi dưỡng và chị C không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Kim C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nghĩa vụ chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Kim C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Trương D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ bằng hình thức niêm yết thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập bị đơn anh Trương D yêu cầu cung cấp bản tự khai trình bày ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vào ngày 18/02/2019 nhưng anh D vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến gì. Tòa án triệu tập anh D tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 19/03/2019 nhưng anh D vắng mặt không lý do và nguyên đơn có đơn xin không tiến hành hòa giải. Vì vậy, vụ án không tiến hành hòa giải được. Vào các ngày 22/4/2019 và ngày 15/5/2019, Tòa án triệu tập anh D tham gia phiên tòa nhưng anh Dương vắng mặt không lý do.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn T và bà Lê Thị Hb trình bày: Ông T và bà H là cha mẹ ruột của ông Trương D, ông bà biết nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị C và anh D là do trước đây anh D hay cờ bạc nhưng hiện tại đã chú tâm làm ăn, vợ chồng anh D và chị C có 01 con chung tên Trương Thanh B, cháu B hiện đang sinh sống với ông bà và anh D, anh D đang làm nghề tài xế và có nhà cửa nên đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu B.

- Người làm chứng chị Nguyễn Thị Minh H trình bày: Chị H là bạn của chị Nguyễn Thị Kim C, chị biết nguyên nhân mâu thuẫn chị C và anh D là do anh hắt hủi và đuổi chị Cương ra khỏi nhà.

- Biên bản xác minh của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An ngày 21/01/2019 tại UBND phường Đ H, thị xã D A thể hiện: Hội Liên hiệp phụ nữ phường Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương không tiếp nhận thông tin từ cơ sở phản ánh về mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Kim C và anh Trương D, đồng thời không tiếp nhận đơn yêu cầu hòa giải về quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh D.

- Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự: Nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn được triệu tập 02 lần tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Chị Nguyễn Thị Kim C và anh Trương D tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Trương Thanh B, sinh ngày 21/10/2004, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị C và anh D đã kéo dài, không có khả năng hàn gắn, đoàn tụ nên yêu cầu ly hôn của chị C là có cơ sở. Và để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung cần giao con chung cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn T, bà Lê Thị H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn anh Trương D được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ 02 lần vào các ngày 22/4/2019 và ngày 15/5/2019 nhưng đều vắng mặt không lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim C và anh Trương D là vợ chồng, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã Đ H, huyện D A (nay là phường Đ H, thị xã D A), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 57/KH/2004, quyển số 01 cấp ngày 13/4/2004 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Chị C xác định trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau, hiện nay hai vợ chồng sống ly thân nên chị yêu cầu được ly hôn với anh D. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh D đến làm việc nhưng đều vắng mặt không rõ lý do, anh D không đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Đồng thời, anh D cũng không có văn bản thể hiện thiện chí đưa ra phương án hàn gắn mối quan hệ giữa anh với chị C, vì vậy có cơ sở xác định cuộc sống hôn nhân của chị C và anh D đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc chị C yêu cầu được ly hôn với anh D là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình nên có căn cứ chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim C và anh Trương D có 01 con chung tên Nguyễn Thanh B, sinh ngày 21/10/2004. Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, sau khi ly hôn chị C yêu cầu giao con chung cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng và chị C không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Xét hiện nay cháu B là nam giới, đang sinh sống với anh D và ông bà nội, anh D có nơi ở và công việc ổn định đồng thời để tránh việc xáo trộn việc ăn ở cũng như học tập của cháu Bình nên cần tiếp tục giao cháu B cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng và đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, trong suốt quá trình tố tụng anh D không có ý kiến hay yêu cầu gì về vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên yêu cầu của chị C về vấn đề cấp dưỡng nuôn con chung là có cơ sở chấp nhận.

[2.3] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Kim C không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Từ những phân tích nêu trên, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương là phù hợp.

[4] Về án phí ly hôn: Chị Nguyễn Thị Kim C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thương vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim C đối với anh Trương D.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim C được ly hôn với anh Trương D (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 57/KH/2004, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã Đ H, huyện D A (nay là phường Đ H, thị xã D A), tỉnh Bình Dương cấp ngày cấp ngày 13/4/2004).

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim C giao con chung tên Nguyễn Thanh B, sinh ngày 21/10/2004 cho anh Trương D tiếp tục nuôi dưỡng và chị Nguyễn Thị Kim C không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị C và anh D đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Vì lợi ích hợp pháp của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Nguyễn Thị Kim C không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kim C phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn đồng) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0027977 ngày 11/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

3. Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./. 


63
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 39/2019/HNGĐ-ST ngày 15/05/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:39/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 15/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về