Bản án 39/2018/HSST ngày 04/05/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 39/2018/HSST NGÀY 04/05/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 04 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 25/2018/HSST, ngày 07 tháng 3 năm 2018, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lý Văn T; Sinh năm: 1983, tại: Tuyên Quang.HKTT và chỗ ở: Thôn C, xã P, huyện B,tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 6/12, Nghề nghiệp: Làm rẫy; Tiền án:;Tiền sự: Không

Con ông Lý Văn V, sinh năm: 1954 và bà Linh  Thị E sinh năm: 1954. Bị cáo có 4 anh, chị  em ruột, lớn nhất sinh năm 1978, nhỏ nhất sinh năm 1985, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình. Bị cáo có vợ là Lý Thị M. Bị cáo có 01 người con sinh năm 2009.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2017 đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:Chị Lý Thị M; Sinh năm: 1979 Địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 21/11/2017, Lý Văn T điều khiển xe mô tô biển số 93P1-88962 đến khu vực “Làng Mông” thuộc xã Đăk Ngo, huyện Tuy Đức, Đăk Nông để mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, T gặp một người tên Thầm (Không rõ nhân thân lai lịch) tại khu vực rẫy điều giáp “Làng Mông” và mua ma túy của Thầm với số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng). Sau đó, T lấy ra một ít sử dụng tại đây, phần còn lại bỏ vào túi bên trái áo khoác T đang mặc trên người. Sau đó, T điều khiển xe mô tô về. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, T về đến khu vực “cầu Mới” thuộc thôn 6, xã Đức Liễu, Bù Đăng thì bị lực lượng công an kiểm tra. Quá trình kiểm tra, phát hiện trong túi áo khoác của T có 01 gói giấy bạc chứa ma túy (Heroin) nên đã tiến hành thu giữ, lập biên bản phạm tội quả tang đối với T.

Căn cứ các bản kết luận giám định số 585/2017/GĐMT ngày 24/11/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước xác định chất màu trắng đựng trong 01 gói giấy bạc là ma túy, có trọng lượng là 0,1860 gam là Heroin.
Vật chứng vụ án:   01 xe mô tô Yamaha Ecixter màu đỏ, đen, biển số 93P1 – 889.62. Số tiền 500.000đ; 01 phong bì niêm phong số 585M của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Phước.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng, Kiểm sát viên không có ý kiến khiếu nại gì về kết luận giám định.

Tại bản cáo trạng số: 20/KSĐT – TA, ngày 05/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Lý Văn T về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa đại diện viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lý Văn T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Về hình phạt áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lý Văn T từ 12 đến 15 tháng tù.

Bị cáo Lý Văn T khai nhận toàn bộ  hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lý Thị M có yêu cầu được nhận lại chiếc xe mô tô biển số 93P1 – 889.62, đây là tài sản chung của vợ chồng chị, đây cũng là phương tiện duy nhất của gia đình chị để đi lại và đưa đón con chị đi học.

Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

[1] Về thủ tục tố tụng : Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bù Đăng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:  Tại phiên tòa, bị cáo Lý Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận điều tra, cáo trạng và kết luận của đại diện Viện kiểm sát và các chứng cứ khác đã được xét hỏi công khai và thẩm tra tại phiên toà.

Hội  đồng  xét  xử  xét  thấy có  đủ  cơ sở xác  định:  Khoảng  08  giờ  ngày 21/11/2017, Lý Văn T điều khiển xe mô tô biển số 93P1-88962 đến khu vực “Làng Mông”, xã Đak Ngo, huyện Tuy Đức, Đăk Nông gặp một người tên Thầm (không rõ nhân thân lai lịch) mua 200.000đồng ma túy về sử dụng. T lấy ra một ít để sử dụng còn lại T bỏ vào túi bên trái áo khoác đang mặc, số ma túy còn lại này T cất giữ với mục đích để sử dụng và điều khiển xe đi về. Đến 10 giờ 30 phút cùng ngày T đi đến khu vực cầu mới thuộc Thôn 6, xã Đức Liễu, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước thì bị lực lượng công an kiểm tra và tiến hành thu giữ 01 gói giấy bạc chứa ma túy, lập biên bản phạm tội quả tang đối với T.

Căn cứ kết luận giám định số: 585/2017/GĐMT ngày 24/11/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước xác định chất màu trắng đựng trong 01 gói giấy bạc là ma túy, có trọng lượng là 0,1860 gam là Heroin. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Từ các căn cứ nêu trên có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Lý Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm c tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý về các chất ma túy của Nhà nước.

[3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ :  Quá trình điều tra truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Vật chứng vụ án: Đối với 01 xe mô tô Yamaha Ecixter màu đỏ, đen, biển số 93P1 – 889.62 . Xét thấy, đây là tài sản chung của vợ chồng bị cáo ( bị cáo và chị Lý Thị M), mặc dù chiếc xe này do bị cáo đứng tên nhưng bị cáo đi mua ma túy chỉ với mục đích để sử dụng, đây là tài sản duy nhất của gia đình chị M, là phương tiện duy nhất để chị M đi lại, đưa đón con đi học nên cần trả lại chiếc xe này cho chị M là phù hợp; Đối với số tiền 500.000đ không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo T;

Đối với 01 phong bì niêm phong số 585M của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Phước là số ma túy còn lại sau giám định nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1]. Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Lý Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2017. Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

[2]. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:  Tuyên tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định đựng trong 01 phong bì niêm phong số 585M của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Phước; Trả lại chị chị Lý Thị M 01 xe mô tô Yamaha Ecixter màu đỏ, đen, biển số 93P1 – 889.62;Trả lại cho bị cáo Lý Văn T số tiền 500.000đ. (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 0009586 ngày 13 tháng 3 năm 2018).

[3]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lý Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


54
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 39/2018/HSST ngày 04/05/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:39/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bù Đăng - Bình Phước
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:04/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về