Bản án 39/2018/HNGĐ-ST ngày 20/08/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ , TP. ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 39/2018/HNGĐ-ST NGÀY 20/08/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 20 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:71/2018/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2018 về tranh chấp "Ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:71/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim S, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Số 374 đường A, phường b, quận C, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Ngô Công Đ, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Số 7x đường A, phường B, quận K, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 3 năm 2018, bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Trần Thị Kim S trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Kim S và ông Ngô Công Đ kết hôn với nhau vào năm 2008, đăng ký kết hôn tại UBND phường Tam Thuận, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng, hôn nhân tự nguyện. Trong quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Đ không lo làm ăn, suốt ngày cờ bạc, banh bóng và nhậu nhẹt bê tha nên thường xuyên mâu thuẫn, cải nhau dẫn đến vợ chồng không có tiếng nói chung để xây dựng gia đình. Nay bà S xác định vợ chồng không còn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống được với nhau nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đ.

Về quan hệ con chung: Bà S xác định trong thời kỳ hôn nhân bà và ông Đức có 02 người con chung: Ngô Trần Nhã U, sinh ngày 20/01/2011 và Ngô Trần Đăng K, sinh ngày 07/9/2012. Ly hôn bà S có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung là Ngô Trần Nhã U, còn ông Đ có nghĩa vụ nuôi con Ngô Trần Đăng K, không ai có nghĩa vụ cấp dưỡng phí tổn nuôi con cho ai.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình tranh tụng và tại phiên tòa, Thẩm phán và HĐXX thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Qua nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, xét thấy yêu cầu xin được ly hôn của bà Trần Thị Kim S và ông Ngô Công Đ là có căn cứ phù hợp với Điều 51 và Điều 56 và 58 Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị HĐXX xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà S

- Về con chung: Chấp nhận yêu cầu về nghĩa vụ nuôi con chung như bà S đã yêu cầu trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1] Xét về thủ tục tố tụng: Ngày 05 tháng 2 năm 2018, bà Trần Thị Kim S khởi kiện vụ án Hôn nhân và Gia đình, về việc "Ly hôn" đối với ông Ngô Công Đ, sinh năm 1981; nơi cư trú: Số 7x đường A, phường B, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng; ngày 02/3/2018 Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã thụ lý giải quyết vụ án làđúng theo trình tự tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án được quy định tại Điều 191, Điều 195 và khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa ông Ngô Công Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai những vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xử vắng mặt bị đơn.

 [2] Xét về nội dung: Tại phiên toà hôm nay, bà Trần Thị Kim S cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng và kéo dài, không thể hàn gắn được, hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nữa nên yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Ngô Công Đ. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê tại phiên tòa thể hiện: Hôn nhân giữa bà Trần Thị Kim S và ông Ngô Công Đ là hợp pháp; Theo bà S trình bày qúa trình chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Đ không lo làm ăn, cờ bạc, nhậu nhẹt và nhiều lần bà S khuyên nhủ nhưng ông Đ vẫn không từ bỏ. Trong quá trình tranh tụng và tại phiên tòa hôm nay ông Đ biết việc bà S ly hôn ông, nhưng ông cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu trên của bà S; qua xác minh tại địa phương nơi ông Đ cư trú thể hiện vợ chồng đã sống ly thân với nhau nên có căn cứ để xác định lời khai của bà S là có căn cứ. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng của bà S và ông Đ đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và đời sống chung không thể kéo dài, xét yêu cầu ly hôn của bà S là phù hợp với Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình nên HĐXX chấp nhận.

 [3] Về quan hệ con chung: Bà S xác định trong thời kỳ hôn nhân bà và ông Đ có 02 người con chung: Ngô Trần Nhã U, sinh ngày 20/02/2011 và Ngô Trần Đăng K, sinh ngày 07/9/2012. Ly hôn bà S có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung là Ngô Trần Nhã U, còn ông Đ có nghĩa vụ nuôi con Ngô Trần Đăng K, không ai có nghĩa vụ cấp dưỡng phí tổn nuôi con cho ai.

Xét yêu cầu nuôi con của bà S thấy: Việc nuôi dạy con cái là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, tại phiên tòa bà S có nguyên vọng được nuôi cháu Ngô Trần Nhã U, còn ông Đ có nghĩa vụ nuôi cháu Ngô Trần Đăng K, không ai có nghĩa vụ cấp dưỡng phí tổn nuôi con cho ai là có căn cứ phù hợp với Điều 58 Luật hôn nhân và Gia đình được HĐXX chấp nhận.

 [4] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm, bà Trần Thị Kim S chịu theo quy định tại khoản 5 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc "Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí lệ phí Tòa án" của Uỷ ban thường vụ quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc "Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí lệ phí Tòa án" của Uỷ ban thường vụ quốc hội.

Tuyên Xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Kim S được ly hôn với ông Ngô Công Đức

2/ Về con chung: Bà Trần Thị Kim S có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu Ngô Trần Nhã U, sinh ngày 20/02/2011; Ông Ngô Công Đ có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu Ngô Trần Đăng K, sinh ngày 07/9/2012 cho đến khi các con trưởng thành. Không ai có nghĩa vụ cấp dưỡng phí tổn nuôi con cho ai.

Khi ly hôn cha, mẹ đều có các quyền, nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.

3/ Án phí: Bà Trần Thị Kim S phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 008023 ngày 26.2.2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

4/ Án xử sơ thẩm, báo cho nguyên đơn biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc niêm yết kết quả xét xử tại nơi cư trú./.


71
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 39/2018/HNGĐ-ST ngày 20/08/2018 về ly hôn

Số hiệu:39/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Thanh Khê - Đà Nẵng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/08/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về