Bản án 38/2020/HS-ST ngày 17/07/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 38/2020/HS-ST NGÀY 17/07/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 17 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 31/2020/HSST ngày 29 tháng 5 năm 2020, về tội “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Danh Q, sinh ngày 01/01/1993 tại Kiên Giang; Nơi cư trú: Số 77 TVK, KP. 3, P. RS, KG; Trình độ văn hóa: 3/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Danh M (chết) và bà Huỳnh Thị C, sinh năm 1971; Vợ tên Nguyễn Thị T, sinh năm 1997 và có 01 người con sinh năm 2013; Tiền án: Không.

Tin sự có 02 tiền sự:

- Ngày 03/01/2020 Danh Q bị Công an phường Rạch Sỏi, Thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quyết định số: 87/QĐ-XPVPHC.

- Ngày 12/02/2020 Danh Q bị Công an phường Rạch Sỏi, Thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quyết định số: 103/QĐ-XPVPHC.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/3/2020 (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người bị hại: Ông Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1973 (vắng mặt).

Trú tại: ấp VT B, xã VHH, huyện CT, KG

Người làm chứng:

1/ Bà Đinh Thị Thúy H, sinh năm 1972 (vắng mặt)

Trú tại: ấp VT B, xã VHH, huyện CT, KG

2/ Anh Danh V; sinh năm 1988 (vắng mặt)

Trú tại: ấp Minh Phong, xã Bình An, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 06 giờ, ngày 13 tháng 3 năm 2020 Danh Q một mình đi dọc theo quốc lộ 61 từ Rạch Sỏi về hướng Tà Niên mục đích tìm tài sản sơ hở của người dân để lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài. Đến 07 giờ cùng ngày, Q đi đến trước lò giết mổ gia súc, gia cầm “Hùng Hà” trú tại ấp VT B, xã VHH, CT, KG thì phát hiện chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Dream màu nâu, biển kiểm soát 68X1- 7324 của anh Nguyễn Xuân Đ đang đậu trong khu vực sân của lò giết mổ (xe do chị Đinh Thị Thúy H đứng tên trong giấy đăng ký xe). Q quan sát thấy xe không có người trông giữ và không có ai xung quanh, Q liền lén lút đi đến nơi để xe rồi ngồi lên xe, mở chìa khóa khởi động xe và chạy đi. Lúc này anh Đ đang tưới cây gần đó thấy Q đang trộm cắp xe của anh nên truy hô và cùng người dân đuổi theo bắt quả tang Q đang thực hiện Hành vi trộm cắp tài sản sau đó giao Q cho Cơ quan Công an. Tại Cơ quan điều tra Q đã thừa nhận Hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Kết luận về việc định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 16 ngày 20 tháng 3 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Châu Thành kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dream màu nâu, biển kiểm soát 68X1-7324, số máy: 8116189, số khung 8116189 đã qua sử dụng có giá 5.600.000 đồng.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là người dân tộc tiều số nên có phần nhận thức pháp luật còn hạn chế.

Về vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: Qua trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Xuân Đ gồm: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Dream màu nâu, biển kiểm soát 68X1-7324, số máy: 8116189, số khung 8116189.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, người bị hại là anh Đ đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu gì thêm.

Tại bản cáo trạng số: 36/CT-VKS-CT ngày 28/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Danh Q về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Ti phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Danh Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Danh Q từ 06 đến 09 tháng tù.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.

Bị cáo được nói lời nói sau cùng, bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy như sau:

[1] Về Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện: Vào khoảng 07 giờ, ngày 13/3/2020 Danh Q đi ngang qua lò giết mổ gia súc, gia cầm “Hùng Hà” ngụ tại ấp Vĩnh Thành B, xã Vĩnh Hòa Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang thì phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Dream màu nâu, mang biển số kiểm soát 68X1-7324 của anh Nguyễn Xuân Đ đang đậu trong sân của lò giết mổ không có người trông giữ nên Q nảy sinh ý định lấy trộm. Q lén lút đến gần chiếc xe thì phát hiện trên xe có sẳn chìa khóa nên Q lên xe khởi động và điều khiển xe chạy đi thì liền bị anh Đ phát hiện, truy hô cho người dân đuổi theo và bắt được Q. Theo như kết quả định giá tài sản thì chiếc xe mà Q lấy trộm của bị hại có giá trị là 5.600.000 đồng. Đối chiếu theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự thì “Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm ….”. Như vậy, hành vi lén lút lấy trộm xe có giá trị 5.600.000 đồng của bị cáo đã đủ yếu tố cấu Thành tội “Trộm cắp tài sản” như đã viện dẫn nêu trên.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi bị cáo đủ năng lực nhận thức được việc lén lút lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý trách nhiệm hình sự. Trong vụ án này cho thấy, bị cáo là một thanh niên tuổi đời còn trẻ có sức khỏe lẻ ra bị cáo phải biết lo tu dưỡng làm ăn, lao động chân chính để tự nuôi sống bản thân và gia đình sống có ích cho xã hội. Thế nhưng bị cáo không được điều đó mà trái lại với bản chất tham lam lười lao động nên khi phát hiện tài sản của người bị hại để sơ hở thiếu sự trông giữ bị cáo liền nhanh tay lấy cắp. Hành vi phạm tội của bị cáo không những đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người bị hại được pháp luật bảo vệ mà còn mà còn tạo tâm lý bất an cho người dân làm cho họ không an tâm lao động, công tác sản xuất, HĐXX nghị án thảo luận cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng để răn đe, giáo dục để phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, qua hồ sơ thể hiện thì vào ngày 03/01 và ngày 12/02/2020 bị cáo đã 02 lần bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên qua đây cần xem xét về nhân thân bị cáo khi lượng hình mới là thỏa đáng.

[4] Xét về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo luôn Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là người dân tộc thiểu số nên việc am hiểu pháp luật có phần còn hạn chế. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Bộ luật hình sự để xem xét hình phạt cho bị cáo khi lượng hình là phù hợp.

[5] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc định tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhận để xem xét.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Do chiếc xe bị mất trộm người bị hại anh Nguyễn Xuân Đ đã được nhận lại và do anh Đ không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.

[7] Về án phí: Xử buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Danh Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Danh Q 06 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp Hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 13/3/2020.

Về áp phí áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Xử buộc bị cáo Danh Q phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


8
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 38/2020/HS-ST ngày 17/07/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:38/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Kiên Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 17/07/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về