Bản án 38/2020/HNGĐ-ST ngày 27/04/2020 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 38/2020/HNGĐ-ST NGÀY 27/04/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Trong ngày 27 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CM xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 18/2019/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2020 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2020/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2020/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1990: địa chỉ; ấp TH, xã TM, huyện CM, tỉnh An Giang (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Lê Hoàng Vinh, sinh năm 1988: địa chỉ; ấp TH, xã TM, huyện CM, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai, biên bản không hòa giải được và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết N trình bày: Chị và anh Vinh do quen biết và được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới năm 2015, anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã TM, huyện CM, tỉnh An Giang. Anh chị sống chung hạnh phúc đến tháng 9 năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, trong cuộc sống thường xuyên cự cãi, tính tình không phù hợp nhau. Anh chị không còn sống chung từ đó đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn anh yêu cầu ly hôn với anh Vinh.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lê Nguyễn Ngọc Châu, sinh ngày 04/01/2016. Hiện cháu Châu đang sống chung với chị N. Khi ly hôn chị N yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không yêu cầu anh Vinh cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết N xác định không có.

- Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết N xác định không có.

Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ anh Lê Hoàng Vinh để tham gia phiên hòa giải nhưng anh Vinh vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án.

Tại phiên tòa, chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Tuyết N khởi kiện anh Lê Hoàng Vinh cư trú ấp TH, xã TM, huyện CM, tỉnh An Giang, Tòa án nhân dân huyện CM thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, phù hợp theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Lê Hoàng Vinh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Vinh.

[2]. Về hôn nhân: Chị N và anh Vinh sống chung với nhau vào năm 2015 anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã TM, huyện CM, tỉnh An Giang nên quan hệ hôn nhân giữa anh chị được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống do anh, chị bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau. Chị và anh Vinh không còn sống chung từ tháng 9 năm 2019 cho đến nay, như vậy mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung giữa chị N và anh Vinh không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, chị N yêu cầu ly hôn với anh Vinh, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình “ Khi vợ hoặc chồng xin ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn….” Tại phiên tòa, chị N xác định tình cảm không còn. Do đó, yêu cầu ly hôn của anh N là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N.

[3]. Về con chung: Anh chị có 01 con chung Lê Nguyễn Ngọc Châu, sinh ngày 04/01/2016, khi ly hôn chị N yêu cầu được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt về quyền lợi của con chưa thành niên, hiện nay cháu Châu sống ổn định với chị N vẫn phát triển tốt về thể chất và tinh thần, anh Vinh cũng không có ý kiến phản đối. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu Châu cho chị N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình “ Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con ; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

[4]. Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa chị N không yêu cầu anh Vinh cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5]. Về tài sản chung: Chị N xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về nợ chung: Chị N xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Ghi nhận chị N xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của chị N, anh Vinh thì anh, chị phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

[7]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị Tuyết N phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Các khoản 1 Điều 53, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Các Điều 28, 35, 39, 146, 147, 228, 235, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết N.

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết N được ly hôn với anh Lê Hoàng Vinh.

Giấy chứng nhận kết hôn số 01 ngày 19/8/2015 của Ủy ban nhân dân xã TM, huyện CM, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết N được tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Lê Nguyễn Ngọc Châu, sinh ngày 04/01/2016. Anh Lê Hoàng Vinh không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Vinh trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết N xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết N xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Ghi nhận chị N xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của chị N và anh Vinh trong thời kỳ hôn nhân thì anh, chị phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tuyết N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007829 ngày 07 tháng 01 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CM, tỉnh An Giang. Chị N không phải nộp thêm.

Đương sự có mặt tham gia phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


50
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 38/2020/HNGĐ-ST ngày 27/04/2020 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:38/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chợ Mới - An Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:27/04/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về