Bản án 38/2019/HNGĐ-ST ngày 16/07/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

BẢN ÁN 38/2019/HNGĐ-ST NGÀY 16/07/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 16 tháng 7 năm 2019, tại Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 28/2019/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2019 về ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/7/2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm 1988.

Đa chỉ: thị trấn Thuận A, huyện Phú V, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

Bị đơn: Ông Hồ Kiến N (Ho N Kien), sinh năm 1989.

Đa chỉ: Hoa Kỳ. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Cẩm H và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bà Nguyễn Thị Cẩm H với ông Hồ Kiến N kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 24/01/2014.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được 01 tháng thì ông N trở về Hoa Kỳ. Ông N có làm thủ tục bảo lãnh đoàn tụ vợ chồng cho bà H nhưng không được chấp nhận. Nay bà H nhận thấy vợ chồng không thể đoàn tụ được, mục đích hôn nhân không đạt, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, nên bà H xin ly hôn với ông N để ổn định cuộc sống.

Đi với ông Hồ Kiến N: Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã có công văn số 1746/CV-TAND vào ngày 27/5/2019 yêu cầu ông cung cấp lời khai về các yêu cầu của bà H. Đến ngày 10/6/2019 ông có văn bản trả lời cho Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế với nội dung là đồng ý ly hôn với bà H, đồng thời có nguyện vọng xin xét xử vắng mặt. Văn bản trả lời của ông N đã được Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Hoa Kỳ chứng thực ngày 10/6/2019.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà H và ông N khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế có ý kiến: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, Tòa án chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, không có vấn đề gì cần phải kiến nghị khắc phục.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà H được ly hôn với ông N. Về các mối quan hệ khác, đương sự không yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bà Nguyễn Thị Cẩm H và ông Hồ Kiến N kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện được Uỷ ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 24/01/2014 là phù hợp pháp luật.

[2] Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian ngắn thì ông N trở lại Hoa Kỳ. Do điều kiện mỗi người ở một nơi nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, bà H không còn thương yêu ông N nữa. Trong quá trình xác minh và tại phiên tòa bà H vẫn xin được ly hôn với ông N. Đối với ông N, cũng đã đồng ý ly hôn với bà H.

Hi đồng xét xử xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của các bên đương sự, cho bà H được ly hôn ông N để ổn định cuộc sống riêng của mỗi người như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh là có cơ sở.

[3] Về con chung, tài sản chung: Bà H và ông N khai không có và không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí sơ thẩm: Bà H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 56, Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án, xử:

[1] Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Cẩm H ly hôn với ông Hồ Kiến N (Ho N Kien).

[2] Về con chung và tài sản: Bà Nguyễn Thị Cẩm H và ông Hồ Kiến N không yêu cầu, nên Toà án không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Cẩm H phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng tại biên lai số 005515 ngày 17/5/2019 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế.

Bà H có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông N là 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án, hoặc được tống đạt hợp lệ theo quy định tại khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.


37
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 38/2019/HNGĐ-ST ngày 16/07/2019 về ly hôn

Số hiệu:38/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thừa Thiên Huế
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 16/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về