Bản án 38/2018/HSST ngày 06/04/2018 về tội cướp giật tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 38/2018/HSST NGÀY 06/04/2018 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Hôm nay, ngày 06 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2018/HSST ngày 09 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2018/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: LƯƠNG KHẢI T; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1981 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 612 L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Thợ cơ điện; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Đức T và bà Trần Thị Y; Vợ: Nguyễn Thị Bích N, sinh năm 1985; Con: có một con sinh năm 2011; Nhân thân: Năm 1999 bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 01/3/2013 bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 23/5/2015; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 14/8/2017 bị Công an phường Tân Thành, quận Tân Phú ra Quyết định xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/10/2017. (có mặt tại phiên tòa) Bị hại: chị Lê Phương Y, sinh năm 1987; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 394/7 khu phố 1, phường T, thành phố B, tỉnh Đ; Chỗ ở: 75/18 G, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 16/10/2017, sau khi nhậu xong, Lương Khải T điều khiển xe gắn máy biển số 59P2-620.48 lưu thông trên đường Đ, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thấy chị Lê Phương Y chở một bé gái ngồi phía trước, trên cổ chị Y có đeo dây chuyền nên T nảy sinh ý định cướp giật. Khi đến trước số nhà 298 Đ, phường T, quận T thì T quan sát xung quanh thấy đường vắng liền chạy xe áp sát vào bên phải xe của chị Y rồi dùng tay trái giật được sợi dây chuyền của chị Y rồi tăng ga bỏ chạy. Khi T bỏ chạy đến trước số nhà 004 lô B chung cư G, phường T, quận T thì bị quần chúng đuổi theo đạp ngã xe, T ném lại sợi dây chuyền của chị Y rồi chạy bộ thoát. Đến trưa ngày 20/10/2017 T kể lại sự việc cho mẹ là bà Trần Thị Y biết, bà Y đã đưa T đến Công an quận Tân Phú đầu thú.

Tại Cơ quan điều tra, Lương Khải T đã khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên.

* Vật chứng vụ án:

- Một (01) sợi dây chuyền và mặt dây chuyền vàng bằng kim loại màu vàng 18K, chị Y khai mua vào tháng 7/2017 với giá 6.000.000 (sáu triệu) đồng đã trả lại cho người bị hại là chị Lê Phương Y, chị Y không bị thương tích và không có yêu cầu gì thêm.

- Một (01) chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave biển số 59P2-62048. Qua xác minh được biết chủ sở hữu là anh Trần Văn L ngụ tại 62/1/24B T, Phường 14, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Anh L đưa xe cho em ruột là Trần Văn Minh sử dụng và Minh cho T mượn đi công việc nhưng T sử dụng xe làm phương tiện đi cướp giật tài sản. Anh L và minh không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 54/QĐ ngày 12/01/2018 trả chiếc xe máy trên cho anh Trần Văn L;

- Một (01) đĩa CD-R ghi lại hình ảnh T bỏ chạy té ngã;

- Một (01) chiếc áo sơ mi dài tay màu trắng sọc, một (01) quần jeans dài màu xanh, một (01) nón bảo hiểm màu đen có in chữ “Piaggio” T mang trên người khi thực hiện hành vi phạm tội, còn nhập kho vật chứng chờ xử lý.

Tại phiên tòa, bị cáo Lương Khải T đã thừa nhận hành vi phạm tội và khai nhận như bản cáo trạng đã nêu.

Bản cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 06 tháng 02 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lương Khải T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay cũng như xem xét các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguY quan điểm truy tố bị cáo Lương Khải T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự đồng thời đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: người bị hại Lê Phương Y đã nhận lại tài sản và không có thắc mắc, yêu cầu gì nên không có gì để giải quyết.

Bị cáo Lương Khải T nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xét xử một mức án nhẹ để bị cáo có cơ hội sửa sai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người bị hại, người làm chứng, cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo Lương Khải T đã có hành vi sử dụng xe gắn máy áp sát, tiếp cận tài sản rồi thực hiện cướp giật sợi dây chuyền bằng vàng 18K của chị Lê Phương Y và nhanh chóng tẩu thoát đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp “dùng thủ đoạn nguy hiểm”, căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH ngày 20/6/2017 của Quốc hội thì tội danh và hình phạt được quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó vừa trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được hành vi cướp giật tài sản của người khác bị pháp luật ngăn cấm và bị trừng trị nhưng do động cơ tham lam, muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Xét nhân thân của bị cáo là rất xấu, nhiều lần bị kết án về hành vi cướp giật tài sản và hiện đang có một tiền sự về hành vi đánh bạc nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội chứng tỏ bị cáo có thái độ coi thường pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xét các tình tiết: Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi lại trả cho người bị hại đầy đủ nên chưa gây ra thiệt hại, tại cơ quan điều tra và trước phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đầu thú do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa, người bị hại là chị Lê Phương Y vắng mặt nhưng căn cứ vào hồ sơ vụ án xét thấy người bị hại đã nhận lại tài sản và không còn có yêu cầu, thắc mắc, khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không có gì phải giải quyết.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Một (01) đĩa CD-R ghi lại hình ảnh T bỏ chạy té ngã là vật chứng của vụ án nên lưu vào hồ sơ vụ án;

- Một (01) chiếc áo sơ mi dài tay màu trắng sọc, một (01) quần jeans dài màu xanh, một (01) nón bảo hiểm màu đen có in chữ “Piaggio” T mang trên người khi thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;

[6] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại Khoản 5 Điều 136 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có thu nhập ổn định và đang ở cùng với gia đình, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lương Khải T phạm tội “Cướp giật tài sản” Áp dụng điểm d Khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009); Điều 38; điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử phạt:

Lương Khải T 04 (bốn) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 20/10/2017.

Miễn khoản tiền phạt bổ sung cho bị cáo.

Tịch thu tiêu hủy một (01) chiếc áo sơ mi dài tay màu trắng sọc, một (01) quần jeans dài màu xanh, một (01) nón bảo hiểm màu đen có in chữ “Piaggio”; Lưu vào hồ sơ vụ án một (01) đĩa CD-R ghi lại hình ảnh T bỏ chạy té ngã; (Tình trạng vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 79/PNK ngày 20/01/2018 của Công an quận Tân Phú) Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo; người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày tính từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.


469
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về