Bản án 381/2019/HS-ST ngày 16/08/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 381/2019/HS-ST NGÀY 16/08/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 16 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 280/2019/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 323/2019/QDXXST-HS ngày 08/7/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 504/2019/HSST-QĐ ngày 26/7/2019 đối với các bị cáo:

1/ Ninh Lương Phước D; tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 13/7/1996; Tại: Đồng Nai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Nơi cư trú: 22/110, khu phố 2, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Trình độ học vấn : 10/12; Con ông Ninh Phước Đ, sinh năm 1973 và bà Lương Thị Hồng N, sinh năm 1977; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt ngày 14/3/2019, theo lệnh số 17 ngày 16/02/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B; Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B. Bị cáo có mặt.

2/ Nguyễn Phú C; Tên gọi khác : Không; Sinh năm: 1977; Tại: Đồng Nai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Nơi cư trú: 233/41, khu phố 1, phường T, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Trình độ học vấn : 09/12; Con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1934 (đã chết) và bà Vũ Thị Đ, sinh năm: 1937 (đã chết); Gia đình bị cáo có 06 anh, chị em, bị cáo là con thứ 05 trong gia đình; Bị cáo có vợ là Trần Thị Bích H, sinh năm 1990 và có hai con (lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại. Bị cáo có mặt.

* Bị hi: Anh Nguyễn Quốc H, sinh năm 1984.

Địa chỉ: số 359/35, khu phố 2, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Anh H có đơn xin vắng mặt).

* Người có quyền li, nghĩa v liên quan: Ông Nguyễn Quốc V, sinh năm 1958.

Địa chỉ: số 359/35, khu phố 2, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Ông V có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 13/12/2018, Ninh Lương Phước D và Nguyễn Phú C đến nhà Nguyễn Tấn H chơi. Sau đó, H rủ C và D đi trộm cắp xe mô tô ở gần nhà thờ Bùi Hiệp (thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) thì C và D đồng ý. Khi H, D và C đi bộ ra đến gần nhà thờ Bùi Hiệp thì nhìn thấy anh Nguyễn Quốc H đang say rượu và nằm ngủ trên ghế đá trước cửa nhà số 150/33, khu phố 1, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, bên cạnh có 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 60F2-388.48 và chìa khóa cắm trong ổ khóa xe. Nguyễn Tấn H đi đến lấy trộm xe và điều khiển bỏ đi, còn D và C quay trở lại nhà H, lấy xe mô tô đi theo H để tìm nơi tiêu thụ xe vừa trộm cắp được. Sau đó, H, C và D đi đến khu vực “Ngã ba Trị An”, H bán xe cho một người (không rõ họ tên, địa chỉ) được số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), H chia cho D, C mỗi người 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) và H giữ số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Số tiền trên D, C đã tiêu xài cá nhân hết, còn H bỏ trốn đến nay chưa bắt được.

Sau khi phát hiện bị mất xe, anh Nguyễn Quốc H đã trình báo đến Công an phường T. Qua xác minh, Công an phường T phát hiện Nguyễn Tấn H, Ninh Lương Phước D và Nguyễn Phú C là các đối tượng đã lấy trộm xe của anh H nên lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B điều tra, xử lý.

Trong quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội theo như nội dung cáo trạng mô tả. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo.

Về các vấn đề khác của vụ án:

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 468/TCKH - HĐĐG ngày 28 tháng 12 năm 2018, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 60F2 - 388.48, số máy: HC12E7424486, số khung: 1256FY424415, đã qua sử dụng, chất lượng còn lại 80%, trị giá 16.480.000 đồng (Mười sáu triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng)”.

Vật chứng vụ án gồm: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 60F2 - 388.48, so máy: HC12E7424486, số khung: 1256FY424415, do sau khi trộm cắp xe, Nguyễn Tấn H đã bán cho đối tượng không rõ họ tên, địa chỉ nên tài sản chưa thu hồi được.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Quốc H yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường số tiền 16.480.000 đồng (Mười sáu triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng). Hiện các bị cáo chưa bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 285/CT-VKSBH ngày 06/6/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố các bị cáo Ninh Lương Phước D và Nguyễn Phú C về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ Luật hình sự, xử phạt bị cáo Ninh Lương Phước D mức án từ: 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù giam; xử phạt bị cáo Nguyễn Phú C mức án từ: 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù giam.

Đối với Nguyễn Tấn H là đồng phạm cùng thực hiện hành vi phạm tội với Ninh Lương Phước D và Nguyễn Phú C, Cơ quan điều tra đã khởi tố bị can và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với H. Tuy nhiên, H đã bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã có Quyết định tạm đình điều tra vụ án hình sự đối với bị can và ra Lệnh truy nã đối với Nguyễn Tấn H, đến khi bắt được sẽ xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo Ninh Lương Phước D, Nguyễn Phú C liên đới bồi thường cho bị hại Nguyễn Quốc H theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 60F2 - 388.48, số máy: HC12E7424486, số khung: 1256FY424415, do sau khi trộm cắp xe, H đã bán cho đối tượng không rõ họ tên, địa chỉ nên tài sản chưa thu hồi được.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để bị cáo sớm về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng trong hồ sơ vụ án: Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo, người tham gia tố tụng khác và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện theo quy định pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Ninh Lương Phước D và Nguyễn Phú C đã khai nhận: Khoảng 01 giờ ngày 13/12/2018, tại trước cửa nhà số 150/33, khu phố 1, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Tấn H, Ninh Lương Phước D, Nguyễn Phú C đã có hành vi trộm cắp 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 60F2 - 388.48, số máy: HC12E7424486, số khung: 1256FY424415 trị giá 16.480.000 đồng (Mười sáu triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng) của anh Nguyễn Quốc H. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án; lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như nội dung bản cáo trạng số 285/CT-VKSBH ngày 06/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự, trị an xã hội tại địa phương. Các bị cáo là người trưởng thành, có nhận thức, có khả năng lao động nuôi sống bản thân, nhưng không chịu tu chí làm ăn mà vì lòng tham, nên dù biết trộm cắp là vi phạm pháp luật vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần thiết xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về vai trò của từng bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, tổ chức và thống nhất từ trước. Trong đó, Nguyễn Tấn H là người khởi xướng, rủ rê bị cáo D và C thực hiện hành vi phạm tội, đồng thời H cũng là người trực tiếp thực hiện hành vi lấy cắp tài sản. Mặc dù không trực tiếp lấy tài sản của bị hại, nhưng bị cáo D và C khi được H rủ rê đã cùng đi với H để cảnh giới, khi H lấy được tài sản của bị hại thì bị cáo D về lấy xe chở bị cáo C đi theo Nguyễn Tấn H để tìm nơi tiêu thụ tài sản, hành vi của hai bị cáo nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho Nguyễn Tấn H thực hiện trót lọt hành vi phạm tội. Do đó, bị cáo D và bị cáo C phải chịu mức hình phạt ngang nhau.

Đối với Nguyễn Tấn H là đồng phạm cùng thực hiện hành vi phạm tội với Ninh Lương Phước D và Nguyễn Phú C, Cơ quan điều tra đã khởi tố bị can và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với H. Tuy nhiên, H đã bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã có Quyết định tạm đình điều tra vụ án hình sự đối với bị can và ra Lệnh truy nã đối với Nguyễn Tấn H, đến khi bắt được sẽ xử lý sau là phù hợp.

[3] Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017). Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xem xét quyết định hình phạt khi lượng hình.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng. Tuy nhiên, căn cứ vào tài liệu chứng cứ và lời khai tại phiên tòa của các bị cáo cho thấy các bị cáo chưa có công việc ổn định, không có thu nhập. Nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo Ninh Lương Phước D đồng ý bồi thường cho anh Nguyễn Quốc H số tiền 8.240.000 đồng (Tám triệu hai trăm bốn mươi nghìn đồng); bị cáo Nguyễn Phú C đồng ý bồi thường cho anh Nguyễn Quốc H số tiền 8.240.000 đồng (Tám triệu hai trăm bốn mươi nghìn đồng) nên ghi nhận. Giành quyền khởi kiện cho bị cáo D và C đối với Nguyễn Tấn H bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

[5] Về xử lý vật chứng : Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 60F2 - 388.48, so may: HC12E7424486, số khung: 1256FY424415, do sau khi trộm cắp xe, Nguyễn Tấn H đã bán cho đối tượng không rõ họ tên, địa chỉ nên tài sản chưa thu hồi được. Hiện nay, Nguyễn Tấn H đã bỏ trốn nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

[6] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 412.000 đồng (Bốn trăm mười hai nghìn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Tuyên bố bị cáo Ninh Lương Phước D và Nguyễn Phú C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Ninh Lương Phước D: 01 (Một) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngay 14/3/2019.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phú C: 01 (Một) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Áp dụng khoản 2 Điều 468; Điều 584; Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Ninh Lương Phước D phải bồi thường cho anh Nguyễn Quốc H số tiền 8.240.000 đồng (Tám triệu hai trăm bốn mươi nghìn đồng); buộc bị cáo Nguyễn Phú C phải bồi thường cho anh Nguyễn Quốc H số tiền 8.240.000 đồng (Tám triệu hai trăm bốn mươi nghìn đồng). Giành quyền khởi kiện cho bị cáo D và C đối với Nguyễn Tấn H bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành số tiền trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 412.000 đồng (Bốn trăm mười hai nghìn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.


1
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 381/2019/HS-ST ngày 16/08/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:381/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:16/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về