Bản án 380/2017/HSPT ngày 02/08/2017 về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 380/2017/HSPT NGÀY 02/08/2017 VỀ TỘI TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ

Trong ngày 02 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 323/2017/HSPT ngày12/6/2017 đối với bị cáo Trần Thị Kim H do có kháng cáo của bị cáo  đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2017/HSST ngày 27/04/2017 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo kháng cáo:

Trần Thị Kim H, giới tính: nữ; sinh năm 1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký HKTT: ấp A1, xã A2, huyện A3, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở: Tổ X, Khu phố X1, phường X2, Quận X3, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 3/12; nghề nghiệp: làm thuê; con ông Trần Minh T (chết) và bà Lê Thị D; hoàn cảnh gia đình: bị cáo có chồng và 01 người con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/02/2017 (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NHẬN THẤY

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện A và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ ngày 08/12/2016 Nguyễn Văn E điện thoại rủ Ngô Văn E1 đi tìm tài sản sơ hở để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài, thì E1 đồng ý. E điều khiển xe mô tô biển số 52Z1-V1 đến gặp E1 tại cầu sắt thuộc khu dân cư A9, ấp B1, xã B3, huyện A chở E1 đi trộm cắp tài sản. Khi cả hai chạy trên tuyến đường B4 thuộc ấp B2, xã B5, huyện A để tìm tài sản trộm cắp thì bị tổ tuần tra thuộc Công an huyện A phát hiện, kiểm tra và đưa về trụ sở làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A, E1 và E đã khai nhận hành vi phạm tội, E1 còn khai nhận trước đây E1 đã cùng Huỳnh Hồng Q thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản:

Vụ thứ nhất: vào tối ngày 30/11/2016, Q rủ F đi trộm cắp tài sản, E1 đồng ý. E1 mượn chiếc xe mô tô biển số 53Z1- V2 của Nguyễn Phúc H1 để đi công việc, sau đó E1 sử dụng chiếc xe này để chở Q đi trộm cắp tài sản. Khi cả hai đến bên hông nhà trọ B7 ấp B2, xã B6, huyện A thì phát hiện thấy chiếc xe mô tô biển số 54R1-V3 của anh Lê Tiến K đang đậu, không có người trông coi nên E1 đứng cảnh giới, để Q đi bộ lại gần chiếc xe trên dùng tay bứt dây điện rồi nổ máy chạy về hướng cầu B8, xã B3, huyện A. Q cất giấu chiếc xe vừa trộm cắp được ở gần nhà Hoàng, còn E1 điện thoại báo cho E là mới trộm cắp được chiếc xe mô tô và nhờ E tìm người tiêu thụ. Đến ngày hôm sau, E điện thoại cho E1 báo đã tìm được người mua xe là Trần Thị Kim H và hẹn gặp E1 tại cầu sắt khu dân cư A9. Sau khi thỏa thuận, E1 đồng ý bán chiếc xe cho H với giá là 1.100.000 đồng. H biết rõ chiếc xe mô tô này là do F trộm cắp mà có nhưng do không có phương tiện đi lại nên H đồng ý mua.

Ngoài ra, nhóm đối tượng Q và E1 còn thực hiện thêm 3 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn xã B5, huyện A vào ngày 02/12/2016, ngày 07/12/2016 và đầu tháng 12/2016 (không nhớ rõ ngày).

Theo Kết luận định giá tài sản ngày 12/12/2016 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A, kết luận: Chiếc xe mô tô biển số 54R1-0985 trị giá 2.500.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2017/HSST ngày 27/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện A, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Trần Thị Kim H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Áp dụng khoản 1 Điều 250; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Trần Thị Kim H 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/02/2017.

Ngoài ra, bản án còn tuyên phạt Ngô Văn E1 02 năm 06 tháng tù, Huỳnh Hồng Q 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và Nguyễn Văn E 01 năm tù, Nguyễn Phúc H1 09 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, đồng thời xử lý về tiền thu lợi bất chính, vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 27/4/2017 Tòa án xét xử sơ thẩm, đến ngày 05/5/2017 bị cáo Trần Thị Kim H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Thị Kim H khai nhận hành vi như nội dung cáo trạng và bản án sơ thẩm đã nêu ở trên, đồng thời giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích tính chất của vụ án, những tình tiết giảm nhẹ, đã đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xử phạt bị cáo 06 tháng tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo,

XÉT THẤY

Vào tối ngày 30/11/2016, sau khi Huỳnh Hồng Q và Ngô Văn E1 trộm cắp được chiếc xe mô tô biển số 54R1-0985 của anh Lê Tiến K thì E1 điện thoại cho Nguyễn Văn E báo là mới trộm cắp được chiếc xe mô tô và nhờ E tìm người tiêu thụ. Đến ngày hôm sau, E điện thoại cho E1 báo đã tìm được người mua xe, tên là Trần Thị Kim H và hẹn gặp E1 tại cầu sắt khu dân cư A9. Sau khi thỏa thuận giá cả, E1 đồng ý bán chiếc xe này cho H với giá là 1.100.000 đồng.

Theo Kết luận định giá tài sản thì chiếc xe mô tô biển số 54R1-0985 trị giá là 2.500.000 đồng.

Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Trần Thị Kim H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và áp dụng khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 để xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Ngày 27/4/2017 Tòa án xét xử sơ thẩm, đến ngày 05/5/2017 bị cáo Trần Thị Kim H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt là trong hạn luật định nên hợp lệ.

Xét kháng cáo:

Bị cáo Trần Thị Kim H biết chiếc xe mô tô biển số 54R1-0985 là do E1 trộm cắp mà có nhưng vì ham rẻ nên bị cáo đã mua lại chiếc xe này để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, an toàn xã hội, cản trở hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc điều tra xử lý người phạm tội, nên cần có mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo.

Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự và các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, đó là: phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải theo điểm h, p khoản 1 Điều 46 và tuyên phạt bị cáo với mức án là 09 tháng tù.

Mặc dù tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo H không xuất trình tình tiết nào mới để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo, nhưng bản thân bị cáo là người có trình độ học vấn thấp (3/12) và đang nuôi con nhỏ (sinh năm 2012) nên cần áp dụng các tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Như vậy, với hành vi vi phạm, tính chất phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ nêu trên, xét thấy mức án mà cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo là nghiêm khắc, chưa tương xứng, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo và sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm một phần hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo.

Lập luận trên đây là căn cứ chấp nhận toàn bộ lời trình bày của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa hôm nay.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Áp dụng Điều 241; điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 248; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị Kim H và sửa bản án sơ thẩm. Tuyên bố bị cáo Trần Thị Kim H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người  khác phạm tội mà có”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 250; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009;

Xử phạt: Trần Thị Kim H 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/02/2017.

- Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


70
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về