Bản án 37/2019/HSST ngày 31/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML, TỈNH SL

BẢN ÁN 37/2019/HSST NGÀY 31/05/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 31 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh SL xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2019/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2019/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

QVT, sinh ngày 03/02/2000, tại HT, ML, SL; Nơi ĐKHKTT: Bản Lọng Bong, xã HT, huyện ML, tỉnh SL; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: La Ha; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn T và con bà Quàng Thị H; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/01/2019; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Cầm Kim Loan, Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp viên pháp lý nhà nước, tỉnh SL. Có mặt.

- Người làm chứng: LVĐ, sinh 2001. Địa chỉ: Bản Tát Ướt, xã LT, huyện TC, tỉnh SL. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo QVT bị Viện kiểm sát nhân dân huyện ML truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào hồi 08 giờ 15 phút ngày 24/01/2019, tại Tiểu khu 4, thị trấn Ít Ong, huyện ML, tỉnh SL, Công an phát hiện và bắt quả tang QVT, sinh ngày 03/02/2000, ở bản Lọng Bong, xã HT, huyện ML, tỉnh SL đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ: 01 gói bằng giấy màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng, do QVT lấy trong túi quần bên phải tự giác giao nộp, QVT khai là Heroine cất giữ nhằm mục đích để sử dụng.

Ngày 24/01/2019 cơ quan Công an đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định, kết quả: 01 gói bằng giấy màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng, do QVT lấy trong túi quần bên phải tự giác giao nộp có khối lượng 0,27 gam, lấy 0,06 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu T. Cơ quan Công an huyện ML ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 281/KLGĐ ngày 27/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh SL. Kết luận: Mẫu ký hiệu T là chất ma túy, loại chất Heroine, khối lượng giám định là 0,06 gam. Tổng khối lượng là 0,27 gam Heroine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo QVT, người bào chữa không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Quá trình điều tra QVT khai nhận: Ngày 22/01/2019 QVT đến bản Chế Tạo, xã Chế Tạo, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái tìm mua Heroine để sử dụng, tại đây QVT gặp và mua của người tên là Xạ, dân tộc mông 01 gói Heroine với giá 100.000, đồng đem về cùng LVĐ, sinh 2001. Địa chỉ: Bản Tát Ướt, xã LT, huyện TC, tỉnh SL ra bãi đất trống gần nhà sử dụng một ít, còn lại QVT cất. Ngày 23/01/2019 QVT và LVĐ ra thị trấn Ít Ong chơi điện tử đến sáng ngày 24/01/2019 hai người đến phòng trọ ở tiểu khu 4, thị trấn Ít Ong, huyện ML, tỉnh SL của Lường Văn Sơn là bạn QVT ngủ nhờ, đến 08 giờ cùng ngày QVT bị Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Về nguồn gốc ma túy QVT khai mua của một người đàn ông dân tộc mông tên là Xạ, không biết địa chỉ với số tiền 100.000, đồng. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của QVT.

Đối với LVĐ được sử dụng ma túy cùng QVT cơ quan Công an đã xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với Lường Văn Sơn có cho QVT và LVĐ ngủ nhờ, không biết việc QVT cất giấu Heroine.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo QVT đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Bản cáo trạng số: 292/CT-VKSML ngày 09 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ML truy tố bị cáo QVT về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo QVT phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt QVT từ 18 tháng đến 24 tháng tù;

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.

Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: Vỏ phong bì cũ; giấy gói cũ; 0,18 gam Heroine.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Bị cáo, người bào chữa nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Người bào chữa cho bị cáo phát biểu ý kiến bào chữa đưa ra các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện ML, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện ML, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên toà bị cáo QVT thừa nhận: Hồi 08 giờ 15 phút ngày 24/01/2019 QVT đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 01 gói Heroine khối lượng là 0,27 gam, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo QVT đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo theo quy định của khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị cáo có nhân thân không tốt là đối tượng nghiện ma túy. Tại phiên toà bị cáo thật thà khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3]. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: Vỏ phong bì cũ; giấy gói cũ; 0,18 gam Heroine.

Về nguồn gốc ma túy QVT khai mua của một người đàn ông dân tộc mông tên là Xạ, không biết địa chỉ với số tiền 100.000, đồng. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của QVT. Nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy.

Đối với LVĐ được sử dụng ma túy cùng QVT cơ quan Công an đã xử phạt vi phạm hành chính là thỏa đáng.

Đối với Lường Văn Sơn có cho QVT và LVĐ ngủ nhờ, không biết việc QVT cất giấu Heroine, nên không vi phạm pháp luật.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố bị cáo QVT phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo QVT 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 24/01/2019.

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: Vỏ phong bì cũ; giấy gói cũ; 0,18 gam Heroine (đã được niêm phong). Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện ML, tỉnh SL.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo QVT phải chịu 200.000, đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 31/5/2019.


76
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 37/2019/HSST ngày 31/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:37/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mường La - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:31/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về