Bản án 37/2019/HS-ST ngày 30/05/2019 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 37/2019/HS-ST NGÀY 30/05/2019 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Ngày 30 tháng 5 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh ngày 26 tháng 5 năm 1991 tại xã Phấn M, huyện Phú L, tỉnh Thái Nguyên; nơi cư trú: Làng Bún, xã Phấn M, huyện Phú L, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Nhâm Thị M; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 28/12/2011 Trần Văn T bị Công an huyện Phú L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “gây thương tích”. T đã chấp hành xong việc nộp phạt năm 2011. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại tại địa phương, “có mặt”.

- Bị hại: Cháu Trần Hải L, sinh năm 2003 (đã chết).

Đa chỉ: Thôn X, xã T, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Người đại diện hợp pháp của cháu Trần Hải L là anh Trần Thành T, sinh năm 1980, (là bố của cháu L) “có mặt”.

Đa chỉ: Thôn X, xã T, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Bị đơn dân sự: Anh Vũ Văn Q, sinh năm 1974 “có mặt”.

Đa chỉ: Xóm Cẩm 2, xã Phục L, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

– Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Cháu Tạ Như Q, sinh năm 2003 “vắng mặt”.

Đa chỉ: Thôn C, xã T, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc

Người giám hộ của cháu Q là chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1974, (Mẹ cháu Q) “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 16 giờ ngày 08 tháng 12 năm 2018 Trần Văn T (Có giấy phép lái xe hạng C) điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 20C – 151.82, tải trọng 9970kg, đăng ký xe mang tên Vũ Văn Q đi từ Công ty gạch T thuộc T, Bình Xuyên đến xã C, thành phố P, Vĩnh Phúc để chở đất theo hợp đồng lao động giữa Trần Văn T và ông Vũ Văn Q. Khi đi đến ngã tư đầu Đường Mới thị trấn Hương Canh đi Tân Phong thì đèn tín hiệu hướng dẫn giao thông chuyển sang màu đỏ, T đỗ xe ở phần đường bên trái giáp vạch sơn kẻ đường. Lúc này, phía bên phải xe ô tô có xe máy điện biển kiểm soát 88 – MĐ3 041.16, do cháu Tạ Như Q điều khiển, chở cháu Trần Hải L ngồi sau cũng đỗ xe trước đèn tín hiệu, ở bên phải xe ô tô biển kiểm soát 20C – 151.82 do T điều khiển. Khi đèn tín hiệu chuyển sang màu xanh thì T bật xi nhan phải điều khiển xe chuyển hướng rẽ phải đi thành phố Phúc Yên. Còn xe của cháu Q cũng di chuyển thẳng theo hướng từ Tân Phong đi thị trấn Hương Canh và vượt lên đầu xe ô tô biển kiểm soát 20C – 151.82 do T điều khiển đang chuyển hướng. Do không chú ý quan sát, không thấy cháu Q đang điều khiển xe máy điện ngay trước đầu xe ô tô của mình nên phần đầu xe ô tô do T điều khiển đã đâm vào phía sau bên trái xe máy điện do cháu Q điều khiển làm cháu Q, cháu L và xe máy điện đổ ngã ra đường. Cháu L bị bánh sau xe ô tô BKS 20C – 151.82 chèn vào phần bụng, mông, đùi. Cháu Q và xe máy điện bị văng ra ngoài. Sau đó T dừng xe và đưa cháu L đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa khu vực Phúc Yên nhưng do thương tích nặng nên cháu L đã tử vong ngay sau đó. Cháu Q không bị thương tích gì, không phải đi điều trị ở đâu.

Sau khi tai nạn xảy ra, Cơ quan điều tra - Công an huyện Bình Xuyên đã tiến hành vẽ sơ đồ vụ tai nạn, chụp ảnh hiện trường và phương tiện, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông theo đúng qui định của pháp luật và các bên liên quan không có ý kiến gì.

Cơ quan điều tra - Công an huyện Bình Xuyên đã trưng cầu T tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc đối với cháu Trần Hải L, tại bản giám định pháp y về tử thi số 229/TT ngày 17/12/2018 của T tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc đã kết luận: “Nhiều vết xây sát da rớm máu và vết lằn, ít vết thương rách da cơ. Chấn thương ngực nặng: Dập gãy nhiều xương sườn hai bên thành nhiều đoạn. Chấn thương bụng nặng: Dập gãy phủ tạng. Chấn thương cột sống nặng: Dập gãy các đốt sống từ D8 xuống tới xương cùng cụt. Dập vỡ khung xương chậu. Gãy cổ xương đùi phải, trái. Gãy 1/3 trên xương đùi phải, trái; nguyên nhân chết: Sốc đa chấn thương không hồi phục.” Quá trình điều tra, đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 20C – 151.82, 01 đăng ký xe số 042915 mang tên Vũ Văn Q; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô, đều là của xe ô tô biển kiểm soát 20C – 151.82 quá trình điều tra xác định là của ông Vũ Văn Q. Ngày 25/01/2019, ông Q có đơn xin xe và ủy quyền cho anh trai là Vũ Văn Quân làm mọi thủ tục, giấy tờ của chiếc xe ô tô trên. Ngày 28/01/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Bình Xuyên đã trả lại xe và toàn bộ giấy tờ xe cho ông Vũ Văn Q là đại diện chủ sở hữu.

Sau khi vụ tai nạn xảy ra, gia đình cháu Trần Hải L đã họp và thống nhất cử anh Trần Thành T (là bố đẻ cháu L) là người đại diện hợp pháp của người bị hại thay mặt gia đình tham gia tố tụng, giải quyết những vấn đề liên quan đến bị hại. Ngày 18/01/2019, bị cáo đã tự nguyện và thỏa thuận thống bồi thường số tiền số tiền 200.000.000 đồng cho đại diện của người bị hại. Đại diện gia đình người bị hại không đề nghị T phải bồi thường gì thêm, đồng thời có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Trần Văn T.

Đi với chiếc xe máy điện biển kiểm soát 88MĐ3-041.16, nhãn hiệu Osakar qua điều tra xác định là của cháu Trần Hải L. Ngày 20/3/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Bình Xuyên đã trả lại chiếc xe trên cho anh Trần Thành T là đại diện hợp pháp của bị hại.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Xuyên thu giữ 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Trần Văn T.

Tại Cáo trạng số 27/CT-VKSBX ngày 23 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ” theo qui định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội đối với Trần Văn T, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1,5 Điều 260, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Cấm bị cáo hành nghề lái xe từ 01 năm đến 02 năm.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại dân sự giữa bị cáo với người đại diện hợp pháp của bị hại.

Về vật chứng vụ án: Trả lại 01 giấy phép lái xe cho Trần Văn T nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Ý kiến của người tham gia tố tụng:

Đại diện hợp pháp của bị hại là anh Trần Thành T tại phiên tòa và quá trình điều tra anh T đã khai đầy đủ phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và sự việc xảy ra diễn biến toàn bộ nội dung vụ án phù hợp như với lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Anh Trần Thành T đã nhận đủ số tiền bồi thường là 200.000.000 đồng, không có yêu cầu gì khác và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Bị đơn dân sự Anh Vũ Văn Q tại phiên tòa và quá trình điều tra anh Quyết đã khai đầy đủ phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và sự việc xảy ra diễn biến toàn bộ nội dung vụ án phù hợp như với lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Anh Quyết đã nhận được xe ô tô và không có yêu cầu gì khác đối với bị cáo.

Người làm chứng cháu Tạ Như Q vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra cháu Q đã khai đầy đủ phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và sự việc xảy ra diễn biến toàn bộ nội dung vụ án phù hợp như với lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã T hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, bị đơn dân sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp với qui định của pháp luật.

[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Trần Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, bị cáo khai nhận: Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 08/12/2018, tại Km 24 + 300 thuộc ngã tư giao cắt giữa đường Quốc lộ 2A với Đường Mới Tân Phong đi Hương Canh thuộc địa phận thị trấn Hương Canh, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc; Trần Văn T có giấy phép lái xe ô tô hạng C theo quy định, điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 20C – 151.82, tải trọng 9970kg, do không chú ý quan sát khi chuyển hướng, đã chuyển hướng không đảm bảo an toàn nên phần đầu xe ô tô T điều khiển đã đâm vào phần phía sau bên trái của xe máy điện biển kiểm soát 88MĐ3-041.16 do cháu Tạ Như Q điều khiển chở phía sau cháu Trần Hải L đang đi theo hướng từ Tân Phong đi thị trấn Hương Canh. Hậu quả, cháu L bị ngã xuống đường và bị bánh sau xe ô tô chèn vào người dẫn đến tử vong do sốc đa chấn thương không hồi phục.

[3] Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người đại diện hợp pháp bị hại, lời khai của người làm chứng, sơ đồ vụ tai nạn, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện giao thông có liên quan đến vụ tai nạn, kết luận giám định pháp y; kết luận giám định hình sự; bản ảnh chụp tại hiện trường cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Hành vi của Trần Văn T đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ quy định trong khi chuyển hướng, người lái xe phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác.

Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của Trần Văn T đã phạm vào tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ” tội danh được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.

[4] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ gây ra thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe của người khác, làm ảnh hưởng đến cuộc sống của gia đình bị hại cũng như của gia đình bị cáo. Nguyên nhân chủ yếu do ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ của bị cáo còn kém. Đấu tranh với các hành vi vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông nói chung trong đó có an toàn giao thông đường bộ nói riêng nhằm thiết lập lại sự bình yên, hạnh phúc cho mọi người và trật tự an toàn cho xã hội là cần thiết.

[5] Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đó là quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo cũng đã có thời gian phục vụ trong quân đội và đã hoàn thành xong nghĩa vụ quân sự. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân xấu: Năm 2011 bị cáo đã bị Công an huyện Phú L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “gây thương tích” cho người khác nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm, tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại phạm tội. Vì vậy, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam như đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ để răn đe, phòng ngừa chung cũng như tạo điều kiện giúp bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra giữa bị cáo với người đại diện hợp pháp của bị hại cùng thống nhất thỏa thuận về bồi thường dân sự với tổng số tiền 200.000.000 đồng. Xét đây là thỏa thuận tự nguyện và không trái pháp luật, Hội đồng xét xử sẽ ghi nhận.

[7] Đối với cháu Tạ Như Q, điều khiển xe máy điện nơi đường giao nhau vượt lên trước phía bên phải xe ô tô biển kiểm soát 20C – 151.82 đang chuyển hướng rẽ phải là vi phạm khoản 4, khoản 5 Điều 14 Luật giao thông đường bộ, có 1 phần lỗi gây nên vụ tai nạn giao thông trên. Tuy nhiên, vào thời điểm T hiện hành vi vi phạm, cháu Tạ Như Q chưa đủ 16 tuổi (14 tuổi 11 tháng 12 ngày), nên hành vi của Q không cấu thành tội phạm. Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Bình Xuyên không đề cập xử lý hình sự. Ngày 23/3/2019, Công an huyện Bình Xuyên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với cháu Tạ Như Q về hành vi điều khiển xe máy điện tham gia giao thông khi chưa đủ 16 tuổi là phù hợp.

[8] Về vật chứng của vụ án: Đối với Giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Trần Văn T cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[9] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Cấm bị cáo Trần Văn T hành nghề lái xe ô tô, thời hạn 01(Một) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày chấp hành xong hình phạt tù; (Giấy phép lái xe do Tòa án tạm giữ).

Áp dụng Điều 584, 585, 586 và 591 của Bộ luật dân sự 2015: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại dân sự giữa bị cáo Trần Văn T cho đại diện hợp pháp của bị hại với số tiền là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Xác nhận người đại diện hợp pháp của bị hại là anh Trần Thành T đã nhận đủ số tiền trên theo biên bản nhận tiền ngày 18 tháng 01 năm 2019.

Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trả lại 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Trần Văn T nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm./. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

243
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 37/2019/HS-ST ngày 30/05/2019 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

Số hiệu:37/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bình Xuyên - Vĩnh Phúc
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 30/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về