Bản án 37/2019/HNGĐ-ST ngày 29/03/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 37/2019/HNGĐ-ST NGÀY 29/03/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 29 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 835/2018/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2018 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2019/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Phạm Văn N, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn A, xã C, huyện T, thành phố H; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Vũ Thị L, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn A, xã C, huyện T, thành phố H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 12/11/2018 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là anh Phạm Văn N trình bày:

1. Về hôn nhân:

Anh N và chị Vũ Thị L kết hôn với nhau vào năm 2014 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 07/8/2014 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, thành phố H. Sau cưới, vợ chồng đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại thôn A, xã C. Quá trình chung sống đến tháng 6 năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống chung dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra va chạm. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình tham gia hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay và không còn quan tâm nhau. Nay anh xác định không còn tình cảm, không còn khả năng đoàn tụ nên anh đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn chị L.

2. Về con chung:

Anh N trình bày anh và chị L không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung:

Anh N trình bày anh và chị L không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Vũ Thị L là bị đơn trong vụ án, cho đến ngày mở phiên tòa lần thứ hai vẫn không có ý kiến về việc giải quyết vụ án.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng pháp luật tố tụng, nguyên đơn chấp hành pháp luật, bị đơn không chấp hành pháp luật. Về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Về hôn nhân: Anh Phạm Văn N được ly hôn chị Vũ Thị L; về con chung: Anh Phạm Văn N và chị Vũ Thị L không có con chung nên không xem xét giải quyết; về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết; nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố H theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn là anh Phạm Văn N vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn là chị Vũ Thị L vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2]. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh Phạm Văn N và chị Vũ Thị L đã được xác lập là hợp pháp (Giấy chứng nhận kết hôn số 45 đăng ký ngày 07/8/2014 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, thành phố H). Căn cứ vào lời khai của đương sự và tài liệu điều tra xác minh thể hiện quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn từ năm 2016 và sống ly thân từ đó cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Chị Vũ Thị L vẫn sinh sống tại thôn A, xã C, biết việc anh N xin ly hôn tại Tòa án song chị L không trình bày quan điểm của mình. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng có tồn tại làm cho hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, khả năng đoàn tụ không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Anh N yêu cầu ly hôn, căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho anh N được ly hôn chị L.

[3]. Về con chung: Anh N và chị L không có con chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[4]. Về tài sản chung: Anh N trình bày anh và chị L không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị L chưa có ý kiến nên Hội đồng xét xử không giải quyết trong vụ án này.

[5]. Về án phí: Anh N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia  đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày  30/12/2016 của  Ủy  ban thường vụ Quốc hội; Xử:

1. Về hôn nhân: Anh Phạm Văn N được ly hôn chị Vũ Thị L.

2. Về án phí: Anh Phạm Văn N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000127 ngày 10/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, thành phố H. Anh Phạm Văn N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


53
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 37/2019/HNGĐ-ST ngày 29/03/2019 về ly hôn

Số hiệu:37/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 29/03/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về