Bản án 37/2019/HNGĐ-ST ngày 04/06/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 37/2019/HNGĐ-ST NGÀY 04/06/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 04 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 92/2019/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2019 về việc: “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Võ Thành T - Sinh năm: 1988, địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre (có mặt).

- Bị đơn: Chị Phạm Lê H - Sinh năm: 1997; địa chỉ: Ấp D, xã E, huyện C, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 25 tháng 02 năm 2019, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, nguyên đơn là anh Võ Thành T trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Phạm Lê H tổ chức lễ cưới vào ngày 09 tháng 10 năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 16 tháng 10 năm 2017, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, anh và chị H chung sống hạnh phúc đến giữa năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn mà nguyên nhân chủ yếu là do chị H không quan tâm gì đến anh, người thân trong gia đình của chị H có những lời lẽ không tốt đối với anh. Anh và chị H đã sống ly thân từ cuối năm 2018 cho đến nay mà không thể đoàn tụ được. Anh T cho rằng tình cảm vợ chồng là không còn, nên anh yêu cầu ly hôn với chị H, không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

Về con chung: Anh và chị H chưa có con chung.

Về tài sản chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh T trình bày là không có.

Bị đơn là chị Phạm Lê H vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm và cũng không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của chị về các vấn đề có liên quan đến vụ án.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Anh Võ Thành T giữ nguyên lời trình bày và yêu cầu khởi kiện như đã nêu trên. Chị Phạm Lê H vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Anh Võ Thành T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về việc: “Ly hôn” với chị Phạm Lê H có địa chỉ tại: ấp D, xã E, huyện C, tỉnh Bến Tre nên Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre thụ lý, giải quyết là phù hợp với quy định tại các điều 28, 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Chị Phạm Lê H đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 177 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng chị H đã hai lần vắng mặt tại các phiên hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đồng thời, chị H cũng vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm lần thứ hai nên Tòa án xét xử vắng mặt chị H là phù hợp với quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về hôn nhân:

[3.1] Việc kết hôn giữa anh T với chị H tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre vào năm 2017 là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nên được công nhận.

[3.2] Tuy nhiên, anh T cho rằng cuộc hôn nhân đã không còn hạnh phúc nên yêu cầu được ly hôn với chị H. Trên cơ sở lời trình bày của anh T, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định được giữa anh T và chị H có phát sinh mâu thuẫn, đã sống ly thân từ cuối năm 2018 cho đến nay mà không thể đoàn tụ được, giữa anh chị không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau mà mạnh ai nấy sống. Đồng thời chị H cũng không có mặt tại Tòa án để tham gia các phiên hòa giải nhằm mục đích đoàn tụ; từ đó cho thấy quan hệ hôn nhân giữa anh T với chị H đã đến mức trầm trọng, không thể đoàn tụ để tiếp tục cuộc sống chung của vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của anh T về việc ly hôn với chị H là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn, về con chung, về tài sản chung, về nợ chung: Chị H vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa sơ thẩm và cũng không gửi cho Tòa án văn bản nào thể hiện ý kiến của chị có yêu cầu về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn, về tài sản chung, về nợ chung, hay về con chung; anh T không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn, trình bày là chưa có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và trình bày là không có nợ; đồng thời Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre cũng không nhận được đơn yêu cầu giải quyết về nợ có liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh T là người khởi kiện yêu cầu ly hôn nên anh phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; các điều 5, 147, 271, 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Võ Thành T, cụ thể:

1/ Về hôn nhân: Anh Võ Thành T được ly hôn với chị Phạm Lê H.

2/ Về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn, về con chung, về tài sản chung, về nợ chung: Chị H vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa sơ thẩm và cũng không gửi cho Tòa án văn bản nào thể hiện ý kiến của chị có yêu cầu về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn, về tài sản chung, về nợ chung, hay về con chung; anh T không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn, trình bày là chưa có con chung, không có nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung; đồng thời Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre cũng không nhận được đơn yêu cầu giải quyết về nợ có liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

3/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Võ Thành T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn; nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là: 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0022048 ngày 06 tháng 3 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Bến Tre, anh Võ Thành T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4/ Về quyền kháng cáo, kháng nghị đối vi bản án: Anh Võ Thành T có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, riêng chị Phạm Lê H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre nhận được bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre giải quyết lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm./.


42
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 37/2019/HNGĐ-ST ngày 04/06/2019 về ly hôn

Số hiệu:37/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mỏ Cày Nam - Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:04/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về