Bản án 37/2017/HSST ngày 04/12/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 37/2017/HSST NGÀY 04/12/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 04 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2017/HSST ngày 17/11/2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2017/HSST-QĐ ngày 23/11/2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tráng Thị D (Tên gọi khác Tráng Thị M), sinh năm 1969 tại huyện M, tỉnh Sơn. Nơi cư trú: Bản T, xã K, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giơi tinh: Nữ; tôn giáo: Không;quôc tich: Viêt Nam; con ông Tráng N, con bà Sồng Thị V (Đều đã chết); bị cáo có chồng là Giàng L và có 06 con, con lớn sinh năm 1986con nhỏ sinh năm 2000. Tiền án, tiền sự: Không. bị tạm giữ , tạm giam từ ngày 12/9/2017 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 15 phút ngày 12/9/2017 Tổ công tác chuyển hóa địa bàn Công an huyện Mộc Châu làm nhiệm vụ tại đường dân sinh bản Căng Tỵ, xã Chiềng Khừa, huyện Mộc Châu phát hiện Tráng Thị D đang đi bộ trên đường dân sinh có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu Tráng Thị D dừng lại để kiểm tra. Có gì liên quan đến ma túy thì tự giác giao nộp, ngay sau đó Tráng Thị D tự giác lấy từ trong người ra 02 gói nilon màu đen bên trong đều đựng cục chất bột màu trắng nghi là Hêrôin. Đồng thời Tráng Thị D khai nhận là Hêrôin của Tráng Thị D cất giấu mục đích để sử dụng cho bản thân nghiện hút. Căn cứ vào hành vi vi phạm và tang vật đã thu giữ, Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và dẫn giải Tráng Thị D bàn giao cho cơ quan Cảnh sát điều tra để làm rõ.

Cùng ngày 12/9/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Mộc Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu và phòng PC54 Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, xác định trọng lượng số cục chất bột màu trắng nghi là Hêrôin thu giữ của Tráng Thị D có trọng lượng 1,39 gam. Lấy 0,10 gam làm mẫu gửi giám định, xác định có phải là ma túy không, thuộc loại chất ma túy gì, trọng lượng (khối lượng) của mẫu gửi giám định là bao nhiêu? Mẫu ký hiệu “D” Tại kết luận giám định số 893/KLMT ngày 25/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu “D” là chất ma túy; Loại chất Hêrôin; Trọng lượng của mẫu gửi giám định là 0,10 gam. Tổng trọng lượng chất ma túy thu giữ được 1,39 gam loại chất Hêrôin.

Quá trình điều tra Tráng Thị D khai nhận: Khoảng 07 ngày 12/9/2017 Tráng Thị D một mình đi bộ từ nhà ở của Tráng Thị D đến khu vực biên giới Việt Nam - Lào mục đích tìm mua ma túy để sö dụng. Khi đi đến đường biên giới Việt Nam – Lào thuộc địa phận bản Căng Tỵ, xã Chiềng Khừa, huyện Mộc Châu thì gặp một người phụ nữ dân tộc Mông khoảng 50 tuổi, không quen biết, Tráng Thị D đã hỏi và mua được của người phụ nữ đó 02 gói Hêrôin được gói bên ngoài bằng mảnh nilon màu đen với giá 100.000đ. Sau khi mua được Hêrôin Tráng Thị D cất giấu vào cạp váy đang mặc rồi đi bộ về nhà, khi đến bản Căng Tỵ, xã Chiềng Khừa huyện Mộc Châu thì gặp Tổ công tác Công an huyệnMộc Châu đang làm nhiệm vụ, kiểm tra phát hiện bắt giữ.

Bản cáo trạng số 212/CT-VKS ngày 17/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can Tráng Thị D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tráng Thị D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Tráng Thị D từ 24 tháng đến 30 tháng tù.Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng: 1,29 gam Hêrôin và vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi "Hoàn trả mẫu giám định vụ Tráng Thị D – Tàng trữ trái phép chất ma túy , ký hiệu D = 0,09 gam"

3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

 [1] Về quá trình tiến hành tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

 [2] Về hành vi của bị cáo:

Tại phiên toà, bị cáo Tráng Thị D giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu. Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng đã thu giữ; biên bản mở niêm phong vật chứng, xác định trọng lượng, lấy mẫu giám định; kết luận giám định; lời khai của những người chứng kiên sư viêc và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do vậy có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 12/9/2017 bị cáo Tráng Thị D đã cất giấu trái phép 1,39 gam Hêrôin để sử dụng cho bản thân nghiện hút. Hành vi của bị cáo đu yêu tô câu thanh tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Điều khoản quy định phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 quy định, Nghị Quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015 để quyết định hình phạt theo hướng có lợi cho bị cáo. Do đó bị cáo chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo nhận thức rõ hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thưc hiên. Cần quyết định hình phạt nghiêm khắc và phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân của bị cáo thấy rằng bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện hút chất ma túy.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, cần áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3] Về hình phạt bổ sung- phạt tiền: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa cho thấy, bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có tài sản riêng gì có giá trị. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

 [4] Đối với người phụ nữ dân tộc Mông đã bán ma túy cho Tráng Thị D, do bị cáo không biết lai lịch địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ để điều tra và xử lý.

 [5] Vật chứng của vụ án: Áp d ụng khoan 1 Điêu 41 Bô luât Hinh sư ; khoản 1, 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng: 1,29 gam Hêrôin và vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi " Hoàn trả mẫu giám định vụ Tráng Thị D – Tàng trữ trái phép chất ma túy, ký hiệu D = 0,09 gam", xét là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Tráng Thị D (Tên gọi khác Trương Thị M) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

1. Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Tráng Thị D 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 12/9/2017.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Áp dụng khoản 1 Điêu 41 Bô luât Hinh sư; khoản 1, 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng: 1,29 gam Hêrôin và vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi " Hoàn trả mẫu giám định vụ Tráng Thị D – Tàng trữ trái phép chất ma túy , ký hiệu D = 0,09 gam".

3. Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định vềmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn). Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


107
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 37/2017/HSST ngày 04/12/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

Số hiệu:37/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mộc Châu - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:04/12/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về