Bản án 36/2020/HS-ST ngày 17/04/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 36/2020/HS-ST NGÀY 17/04/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 17 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2020/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2020/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Lê Văn Đ, sinh năm 1997;

HKTT: thôn H, xã Quyết Thắng, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; trình độ văn hóa: 07/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Lê Văn Nh, sinh năm 1972; con bà Vũ Thị N, sinh năm 1976; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; vợ, con: chưa có; tiền sự: không Tiền án:

- Tại bản án số 34/2016/HSST ngày 08/01/2016 của TAND quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 27/3/2017, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Đến nay Đ chưa chấp hành xong án phí và các quyết định khác của bản án.

Nhân thân:

- Tại bản án số 61/2015/HSST ngày 24/11/2015 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương xử phạt Đ 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” - Tại Quyết định số 2810/QĐ-UBND của chủ tịch UBND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng 24 tháng. Chấp hành xong ngày 01/10/2012 Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/10/2019 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa

2. Phạm Trung Th (tên gọi khác: Phạm Văn Th), sinh năm 1992;

HKTT: xóm C, xã Tân Mỹ, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; trình độ văn hóa 08/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Phạm Văn T, sinh năm 1947; con bà Vũ Thị Đ2, sinh năm 1952; gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ 06; vợ, con: chưa có; tiền sự: không Tiền án:

- Tại bản án số 10/2012/HSST ngày 01/6/2012 của TAND huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình, xử phạt Th 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 27/9/2012 chấp hành xong hình phạt tù.

- Tại bản án số 61/2014/HSST ngày 10/12/2014 của TAND huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xử phạt Th 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đối với hành vi trộm cắp tài sản Th hiện ngày 18/9/2014). Ngày 03/8/2015 chấp hành xong hình phạt tù.

- Tại bản án số 12/2016/HSST ngày 29/4/2016 của TAND quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng xử phạt Th 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 22/10/2018 chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/10/2019 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

- Anh Nguyễn Trường G, sinh năm 1984; Địa chỉ: khu L, phường Vân Dương, TP. Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Hoàng Văn Ch, sinh năm 1978; Địa chỉ: thôn Trung Tâm, xã Trúc Lâm, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Trung Th và Lê Văn Đ là các đối tượng có nhân thân xấu, đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Khoảng 16 giờ ngày 14/10/2019, Phạm Trung Th và Lê Văn Đ cùng rủ nhau đến thành phố Bắc Ninh để trộm cắp tài sản bán lấy tiền ăn tiêu. Trước khi đi, Th đưa cho Đ 01 vam phá khóa do Th chuẩn bị từ trước để phá khóa xe mô tô. Sau đó Th và Đ đi xe bus từ Hà Nội đến thành phố Bắc Ninh. Khi đến khu vực phường Vân Dương, thành phố Bắc Ninh thì xuống xe. Cả 02 đi bộ loanh quanh khu vực phường Vân Dương xem có nhà nào để tài sản sơ hở thì trộm cắp tài sản. Đến khoảng 01 giờ ngày 15/10/2019, Th và Đ đi đến trước cửa nhà anh Nguyễn Trường G thì phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Fanlim kiểu dáng Dream BKS 21T3-7606 của anh G mượn của anh Hoàng Văn Ch đang dựng trong sân nhà, không có cửa cổng. Th bảo Đ đưa lại cho Th chiếc vam phá khóa Th đưa Đ từ trước để Th vào trộm cắp chiếc xe trên. Th vào trong sân để trộm xe còn Đ đứng ngoài cảnh giới. Khi vào đến gần chiếc xe, Th phát hiện xe không khóa cổ, khóa càng nên Th dắt chiếc xe ra khỏi cổng rồi dùng vam phá khóa để nổ được máy chiếc xe trên. Sau đó Th điều khiển xe chở Đ về phòng trọ tại phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, thành phố Hà Nội. 16 giờ cùng ngày, Đ tháo chiếc BKS chiếc xe vừa trộm cắp được, cất trên nóc phòng trọ. Sau đó Đ lấy chiếc BKS 33N9-7737 của chiếc xe do Th trộm cắp từ trước tại tỉnh Hưng Yên rồi lắp vào chiếc xe Th và Đ vừa trộm cắp được tại Bắc Ninh.

Đến 02 giờ 30 phút ngày 18/10/2019, các bị cáo có ý định trộm cắp tài sản tại khu vực tổ 4, khu Tân Xuân, thị trấn Xuân Mai thì bị tổ công tác Công an thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội kiểm tra hành chính. Tổ công tác phát hiện và thu giữ tại túi quần đùi màu đen Lê Văn Đ mặc 01 thanh kim loại dài 07cm, một đầu hình lục giác, một đầu vát 02 cạnh (dạng vam phá khóa xe mô tô); trong túi màu đen nhãn hiệu The north face Đ đang khoác trên người có 01 chiếc cờ lê bằng kim loại cỡ 10 dài 14cm. Tổ công tác đã đưa các bị cáo về trụ sở làm việc.

Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội, Đ và Th khai nhận hành vi trộm cắp xe mô tô của anh Nguyễn Trường G tại địa bàn phường Vân Dương, thành phố Bắc Ninh vào ngày 15/10/2019 Ngày 19/10/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ ra lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở tại số 26/481, tổ 23, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, thành phố Hà Nội của Phạm Trung Th phát hiện và thu giữ: 01 chiếc BKS số 21T3/7606 đã qua sử dụng tại mái ngói trên phòng trọ; 01 xe ô tô nhãn hiệu Fanlim, kiểu dáng Dream, BKS: 33N9-7737, số khung 200075645, số máy:

00461645 Tại bản kết luận định giá số 158/KL-HĐ ngày 21/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Fanlim, kiểu dáng Dream do Trung Quốc sản xuất BKS 21T3-7606, số khung: 200075645, số máy 00461645 đã qua sử dụng trị giá 750.000 đồng.

Ngày 27/11/2019 VKS nhân dân thành phố Hà Nội ra quyết định chuyển vụ án từ Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh để điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 15/01/2020, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh đã trả lại cho bị hại là anh Nguyễn Trường G 01 xe mô tô nhãn hiệu Fanlim BKS 21T3-7606; số khung: 200075645; số máy 00461645. Anh G đã nhận lại tài sản và không đề nghị các bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Với nội dung trên, bản cáo trạng số 26/CT – VKSTPBN ngày 06 tháng 02 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo Lê Văn Đ và Phạm Trung Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo Th và Đ đều thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh Th hành quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích hành vi phạm tội, căn cứ vào nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Phạm Trung Th và Lê Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt:

Bị cáo Phạm Trung Th từ 9 đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2019.

Bị cáo Lê Văn Đ từ 9 đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2019 Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có đề nghị bồi thường thêm nên không đề nghị giải quyết.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 thanh kim loại dài 07cm, một đầu hình lục giác, một đầu vát 02 cạnh (dạng vam phá khóa xe mô tô); 01 túi màu đen nhãn hiệu The north face; 01 chiếc cờ lê bằng kim loại cỡ 10 dài 14cm.

Đối với chiếc BKS 33N9-7737 là BKS chiếc xe mô tô Th trộm cắp trên địa bàn huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, đề nghị tạm giữ để bàn giao cho Cơ quan điều tra huyện Văn Lâm.

Các bị cáo không tham gia tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã Th hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã Th hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Phạm Trung Th và Lê Văn Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa và những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Phạm Trung Th và Lê Văn Đ là các đối tượng có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Vào khoảng 01 giờ ngày 15/10/2019, lợi dụng sơ hở của chủ tài sản là anh Nguyễn Trường G, Đ và Th đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh G 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Fanlim, kiểu dáng Dream, BKS 21T3- 7606, số khung 200075645, số máy 00461645 trị giá 750.000 đồng. Với hành vi trên, các bị cáo Phạm Trung Th và Lê Văn Đ đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Đối với lời khai của Phạm Trung Th về hành vi trộm cắp tài sản là chiếc xe mô tô có BKS 33N9-7737 trên địa bàn huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Theo các tài liệu có trong hồ sơ, chiếc xe mô tô trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng, không xác định được chủ sở hữu. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh đã có văn bản thông báo cho Cơ quan cảnh sát điều tra huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên để tiến hành rà soát tìm người bị hại nhưng chưa có kết quả. Xét thấy, hành vi trộm cắp xe mô tô BKS 33N9-7737 của Th chưa được làm rõ và là độc lập với hành vi trộm cắp xe mô tô BKS 21T3-7606 của các bị cáo vào ngày 15/10/2019 trên địa bàn phường Vân Dương, thành phố Bắc Ninh nên không giải quyết trong vụ án là phù hợp. Đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh tiếp tục phối hợp với Cơ quan cảnh sát điều tra huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên để điều tra, làm rõ và giải quyết theo quy định pháp luật.

[3]. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, tạo dư luận xấu, gây bức xúc trong xã hội và hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu đã nhiều lần bị đưa ra xét xử cũng như xử phạt hành chính đã được cải tạo, giáo dục nhiều lần nhưng nay tiếp tục phạm tội. Điều này thể hiện thái độ coi thường pháp luật của các bị cáo nên cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4]. Xét vai trò của các bị cáo trong hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Phạm Trung Th giữ vai trò đầu vụ là người rủ Đ đi trộm cắp, là người chuẩn bị dụng cụ và trực tiếp Th hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Lê Văn Đ là người giúp sức cho Th Th hiện hành vi. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo Phạm Trung Th và Lê Văn Đ đều có tiền án, tuy nhiên tình tiết trên đã được sử dụng để định tội nên không được sử dụng để áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm” và “tái phạm nguy hiểm” đối với các bị cáo. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo và thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng khi lượng hình để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Do người bị hại là anh Nguyễn Trường G đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không có đề nghị bồi thường thêm nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[6] Về vật chứng:

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Fanlim, kiểu dáng Dream, BKS 21T3- 7606, số khung 200075645, số máy 00461645 do các bị cáo Đ, Th trộm cắp của anh Nguyễn Trường G. Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh G là phù hợp.

Đối với 01 thanh kim loại dài 07cm, một đầu hình lục giác, một đầu vát 02 cạnh (dạng vam phá khóa xe mô tô); 01 túi màu đen nhãn hiệu The north face;

01 chiếc cờ lê bằng kim loại cỡ 10 dài 14cm là dụng cụ để Đ, Th Th hiện tội phạm, hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc BKS 33N9-7737 hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Công an thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh theo phiếu nhập kho vật chứng số 276- LNK ngày 22/10/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh. BKS trên là vật chứng trong vụ án khác nên cần giao cho Cơ quan CSĐT công an thành phố Bắc Ninh để phối hợp với các cơ quan liên quan tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

[7]. Về án phí: Các bị cáo Phạm Trung Th, Lê Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, 136, 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về lệ phí, án phí 1. Tuyên bố các bị cáo Phạm Trung Th, Lê Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phạm Trung Th 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2019.

Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2019.

Quyết định tạm giam bị cáo Phạm Trung Th và Lê Văn Đ 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

2. Về vật chứng trong vụ án:

Tịch thu tiêu hủy 01 thanh kim loại dài 07cm, một đầu hình lục giác, một đầu vát 02 cạnh (dạng vam phá khóa xe mô tô); 01 túi màu đen nhãn hiệu The north face; 01 chiếc cờ lê bằng kim loại cỡ 10 dài 14cm.

Vật chứng trên được mô tả tại Biên bản giao nhận tài sản, vật chứng số 66 ngày 06/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh.

Giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh 01 chiếc BKS 33N9-7737 để tiếp tục điều tra và xử lý theo quy định của pháp luật.

Vật chứng trên được mô tả tại phiếu nhập kho vật chứng số 276-LNK ngày 22/10/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh 3. Các bị cáo Phạm Trung Th, Lê Văn Đ phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.


16
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 36/2020/HS-ST ngày 17/04/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:36/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bắc Ninh - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:17/04/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về