Bản án 36/2018/HS-ST ngày 10/05/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 36/2018/HS-ST NGÀY 10/05/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 10 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 35/2018/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2018/ QĐXXST-HS ngày 26/4/2018, đối với bị cáo:

TRÌNH ANH L, sinh ngày 20/8/1987, tại Tuyên Quang 

Nơi cư trú: Tổ 19, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; dân tộc Kinh; nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ học vấn 5/12; con ông : Không xác định và bà Phan Thị T; có vợ là Vũ Mai L (đã ly hôn) và 01 con, sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Trần Thu U; sinh năm 1998; nơi cư trú: Tổ 19 phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Bà Nguyễn Kim D; sinh năm 1963; nơi cư trú: Tổ 19, phường N, thành phốT, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt

2. Chị Lý Thu H; sinh năm 1983; nơi cư trú: Phố L, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 ngày 21/01/2018, bị cáo Trình Anh L đi giặt quần áo, phát hiện nhà chị Trần Thu U cùng tổ không có ai ở nhà, cửa ngoài khóa, bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, bị cáo đi ra sau nhà chị U phát hiện có ô thoáng, bị cáo lấy chiếc thang gần đấy trèo vào nhà. Sau khi lục soát tủ quần áo thì phát hiện có 01 hộp gỗ nhỏ có khóa, nghĩ có tiền, bị cáo lấy hộp gỗ và mở cửa ngách trái bếp đi ra suối sau nhà. Đi khoảng 60 m thì bị cáo nhặt viên đá ở suối đập cho nắp hộp bung ra và lấy toàn bộ số tiền trong hộp, còn hộp gỗ thì vứt xuống suối. Về đến nhà bị cáo lấy xe mô tô của mình đi đến nhà bà Nguyễn Kim D cư trú tổ 19, phường N trả nợ hết 1.300.000đ, sau đó bị cáo tiếp tục đi đến nhà chị Lý Thu H ở phố L, xã T, huyện Y (là người yêu của bị cáo đã chung sống với nhau nhưng chưa đăng ký) và đưa cho H 1.500.000đ, nhờ H trả nợ hộ số tiền mua xe máy, sau đó bị cáo đi vào phòng trong ngủ, số tiền trộm cắp được còn lại là 1.485.000đ bị cáo giấu xuống dưới chiếc loa vi tính để góc nhà. Đến 16 giờ 00 cùng ngày, sau khi nhận tin báo của chị U, Công an phường N triệu tập bị cáo đến làm việc, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và giao nộp số tiền đang cất giấu. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra thu giữ toàn bộ số tiền mà bị cáo trộm cắp được là 4.285.000đ. Ngày 09/3/2018, Cơ quan điều tra đã trả lại toàn bộ số tiền cho bị hại là chị Trần Thu U.

Từ nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 32/CT-VKSTP ngày 12 tháng 4 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Trình Anh L về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trình Anh L về tội Trộm cắp tài sản và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trình Anh L từ 06 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng. Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung; tuyên quyền kháng cáo đối với bị cáo, bị hại và buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về phần bồi thường dân sự: Do bị hại đã nhận lại được tài sản và không có đề nghị gì thêm nên không xem xét.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Trình Anh L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, không có tình tiết gì mới, bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.

Bị hại chị Trần Thu U xác định ngày 21/01/2018 chị đi vắng, khi về nhà chị phát hiện bị mất toàn bộ số tiền trong hộp cất ở tủ quần áo, sau khi bị mất, chị đã trình báo Công an Phường N, thành phố Tuyên Quang. Sau một thời gian điều tra, Ngày 09/3/2018, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Tuyên Quang đã trả lại cho chị toàn bộ số tiền chị đã bị mất là 4.285.000 đồng và cho chị biết bị cáo Trình Anh L là người đã trộm cắp tài sản của chị, nay chị không đề nghị bị cáo phải bồi thường gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kết thúc phần tranh tụng, bị cáo Trình Anh L nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tuyên Quang, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Trình Anh L tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh qua biên bản tạm giữ giữ đồ vật, tài liệu; kết luận định giá tài sản; biên bản xác minh hiện trường; lời khai của bị hại, người làm chứng, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 ngày 21/01/2018, tại tổ 19, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, Trình Anh L đã có hành vi trộm cắp 4.285.000đ của chị Trần Thu U.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và đã có hành vi lén lút, bí mật trốn tránh sự phát hiện của người quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản của họ. Hành vi của bị cáo được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp, mục đích vụ lợi; trị giá tài sản bị cáo đã trộm cắp trên 2.000.000 đồng, do vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, cần chấp nhận.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo nhất thời phạm tội; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; tại phiên tòa bị hại đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[5] Về mức án mà Viện kiểm sát đề nghị: Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác về tài sản, gây mất trật tự trị an tại địa phương, tuy nhiên bị cáo có nhân thân tốt (chưa bị kết án hay xử lý vi phạm hành chính), có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và có khả năng tự cải tạo, nên không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ giáo dục, răn đe đối với bị cáo. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Ngày 09/3/2018, Cơ quan điều tra đã trả lại toàn bộ số tiền cho chủ sở hữu là chị Trần Thu U. Tại phiên tòa chị U không có yêu cầu, đề nghị gì, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Trình Anh L phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Xử phạt bị cáo Trình Anh L 07 (bẩy) tháng tù cho hưởng án treo. Thử thách 01 (một) năm 02 (hai) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 10/5/2018.

Giao bị cáo Trình Anh L cho Uỷ ban nhân dân phường N, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của pháp luật.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trình Anh L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


109
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 36/2018/HS-ST ngày 10/05/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:36/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Tuyên Quang - Tuyên Quang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:10/05/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về