Bản án 36/2018/HS-ST ngày 05/10/2018 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HN, TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 36/2018/HS-ST NGÀY 05/10/2018 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Trong ngày 05 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã HN, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2018/TLST-HS, ngày 27/8/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2018/QĐXXST-HS, ngày 17 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H; Sinh năm 1969, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Ấp AP, xã AB A, thị xã HN, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Văn Th (đã chết) và bà Đỗ Thị B (đã chết); Vợ: Võ Thị Bạch T, sinh năm 1968; Con: 02 người, người con lớn 28 tuổi và người con nhỏ 23 tuổi; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Tạm giữ: Không; Tạm giam: Không; Áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/4/2018 đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Võ Thị Bạch T (vợ bị cáo Nguyễn Văn H), sinh năm 1968 (có mặt).

Nơi cư trú: Ấp AP, xã AB A, thị xã HN, tỉnh Đồng Tháp.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lê Thị N T - Văn phòng Luật sư N T thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đồng Tháp (có mặt).

- Bị hại: Nguyễn Thành T, sinh năm 1991 (đã chết).

Nơi cư trú: Khóm Mương Nhà Máy, phường AT, thị xã HN, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Trần Thị T N (mẹ ruột của bị hại T), sinh năm 1961.

2. Nguyễn Văn Đ N (cha ruột của bị hại T), sinh năm 1960.

Ông Nguyễn Văn Đ N ủy quyền lại cho bà Trần Thị T N (theo văn bản ủy quyền ngày 13/12/2017), (có mặt).

Cùng nơi cư trú: Khóm 2, phường AT, thị xã HN, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn Én, sinh năm 1964 (vắng mặt);

Nơi cư trú: ấp An Hòa, xã AB A, thị xã HN, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng:

1. Huỳnh Thị Quỳnh Chi, sinh năm 1993 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Ấp Long Tả, xã Long Khánh A, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.

2. Đoàn Văn Tấn, sinh năm 1961 (vắng mặt);

Nơi cư trú :khóm AT B, phường AL, thị xã HN tỉnh Đồng Tháp.

3. Hồ Minh Tấn, sinh năm 1973 (vắng mặt);

Nơi cư trú : khóm AT B, phường AL, thị xã HN, tỉnh Đồng Tháp.

4. Nguyễn Huy Bình, sinh năm 1974 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Ấp An Lợi, xã AB A, thị xã HN, tỉnh đồng Tháp.

5. Nguyễn Văn T, sinh năm 1977 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Khóm 4, phường AT, thị xã HN, tỉnh Đồng Tháp.

6. Trương Hoàng Sơn, sinh năm 1982 ( vắng mặt);

Nơi cư trú: Khóm 4, phường AT, thị xã HN, tỉnh Đồng Tháp.

7. Nguyễn Thị M, sinh năm 1965 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Thôn Thượng Lâm, xã CT, huyện CL, tỉnh Quảng Trị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 23/11/2017 Nguyễn Văn H, điều khiển xe môtô biển số 66H6-9672, trong cơ thể có chứa nồng độ cồn vượt mức quy định, hướng từ thị xã HN đi huyện Tam Nông, khi đi đến đoạn đường thuộc khóm AT B, pH AL, thị xã HN thì va chạm với xe môtô biển số 74G1-022.46 do Nguyễn Thành T, sinh năm 1991 - ngụ khóm Mương Nhà Máy, phường AT, thị xã HN, tỉnh Đồng Tháp điều khiển theo hướng ngược chiều lại. Sau va chạm cả hai xe và người ngã trên mặt đường.

* Hậu quả:

- Về phương tiện: 02 xe ngã trên mặt đường và bị hư hỏng hoàn toàn phần đầu xe (toàn bộ phần cổ xe và bánh trước).

- Về người:

+ Anh Nguyễn Thành T tử vong tại hiện trường.

+ Anh Nguyễn Văn H bị gãy chân trái và chấn thương vùng đầu (vở xương phần mắt phải) được đưa đến Bệnh đa khoa Khu vực HN cấp cứu ban đầu sau đó chuyển đến Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp tiếp tục điều trị.

Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông vào lúc 21 giờ 20 phút, ngày 23/11/2017, thể hiện như sau:

Đoạn đường tại nơi xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng, có tầm nhìn không bị khuất, có vạch kẻ tim đường không liền nét. Mặt đường nhựa dành cho xe cơ giới lưu thông rộng 09m40 (Chín mét bốn mươi); phần đường dành cho xe cơ giới lưu thông theo hướng xe môtô biển số 74G1-022.46 là 04m80 (Bốn mét tám mươi) và phần đường dành cho xe cơ giới lưu thông theo hướng xe môtô biển số 66H6- 9672 là 04m60 (Bốn mét sáu mươi).

Tất cả các thông số đo đạc vào phía lề đường bên trái theo hướng từ thị xã HN đi huyện Tam Nông (Hướng đi của xe môtô biển số 66H6-9672), cụ thể:

- Vùng va chạm giữa hai xe cách lề 02m83 (Hai mét tám mươi ba);

- Trên mặt đường để lại 02 vết cày của xe môtô biển số 74G1-022.46, như sau:

+ Vết thứ nhất không liên tục (ký hiệu số 2) có chiều dài 07m75 (Bảy mét bảy mười lăm); có đầu vết cày cách lề 03m43 (Ba mét bốn mươi ba) và cuối vết cày cách lề 03m60 (Ba mét sáu mươi);

+ Vết thứ hai liên tục (ký hiệu số 3) có chiều dài 00m63 (Không mét sáu mươi ba); có đầu vết cày cách lề 04m10 (Bốn mét mười) và cuối vết cày cách lề 04m08 (Bốn mét không tám);

- Trục trước xe môtô biển số 74G1-022.46 cách lề 03m60 (Ba mét sáu mươi);

- Trục sau xe môtô biển số 74G1-022.46 cách lề 03m65 (Ba mét sáu mươi lăm);

- Trục trước xe môtô biển số 66H6-9672 cách lề 02m75 (Hai mét bảy mươi lăm);

- Trục sau xe môtô biển số 66H6-9672 cách lề 01m70 (Một mét bảy mươi);

- Phần đầu của anh Nguyễn Văn H nằm cách lề 03m85 (Ba mét tám mươi lăm).

sáu).

- Phần đầu của anh Nguyễn Thành T nằm cách lề 01m96 (Một mét chín mươi Tại Biên bản định giá tài sản số: 66/BB-HĐĐGTS, ngày 11/12/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, kết luận như sau:

- 01 (Một) xe môtô biển số 74G1-022.46, số máy 013103 (đã qua sử dụng).

Giá trị thiệt hại là 1.880.000 đồng (Một triệu tám trăm tám chục ngàn đồng).

- 01 (Một) xe môtô biển số 66H6-9672, số máy 0001353 (đã qua sử dụng).

Giá trị thiệt hại là 920.000 đồng (Chín trăm hai chục ngàn đồng).

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 359/TTh-TTPY, ngày 23/11/2017 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Đồng Tháp, kết luận đối với Nguyễn Thành T như sau: “Tử thi Nguyễn Thành T, sinh năm 1991 - ĐKTT: khóm Mương Nhà Máy, phường AT, thị xã HN, tỉnh Đồng Tháp, tử vong do: Vỡ sọ, Dập và xuất huyết não”.

Căn cứ vào Kết luận giám định pháp y tâm thần số: 86/2018/KLGĐTC, ngày 24/5/2018 của Trung tâm Pháp y tâm thần Khu vực Tây Nam Bộ thuộc Bộ Y tế, đã kết luận đối với Nguyễn Văn H như sau:

- Về y học:

+ Trước, trong khi xảy ra sự việc: Đương sự không bệnh lý tâm thần;

+ Sau khi xảy ra vụ việc và hiện tại: Đương sự có bệnh lý tâm thần: Hội chứng sau chấn động não mức độ suy não chấn thương (F07.2 - ICD10).

- Về năng lực:

+ Tại thời điểm xảy ra vụ việc: Đương sự đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

+ Hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do bệnh lý tâm thần (Thông tư 18/2015/TT-BYT).

- Ý kiến khác: Không.

Tại Công văn số: 86.0/PYTT, ngày 24/5/2018 của Trung tâm Pháp y Tâm thần Khu vực Tây Nam Bộ thuộc Bộ Y tế, có ý kiến đối với Nguyễn Văn H như sau:

“Về trách nhiệm hình sự:

Tại thời điểm xảy ra vụ việc: Đương sự có năng lực trách nhiệm hình sự; Hiện tại: Đương sự có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng do bệnh lý tâm thần làm hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; Đề nghị xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ khi xét xử”.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 144/TgT, ngày 12/4/2018 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Đồng Tháp, kết luận đối với Nguyễn Văn H như sau: “Đa sẹo vết thương phần mềm số luợng sẹo nhiều kích thước lớn; Gãy kín đầu dưới xương quay trái cal; Gãy 1/3 giữa hai xương cẳng chân phải còn nẹp vít; Chấn thương đầu gây lõm sọ trán trái, gãy cung gò má phải và thành ngoài hốc mắt trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn H do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là (viết bằng số): 48%. (viết bằng chữ): Bốn mươi tám phần trăm”.

Căn cứ vào Phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu số 01/YCXN, ngày 24/11/2017 của Bệnh viện đa khoa Khu vực HN, tỉnh Đồng Tháp đối với Nguyễn Thành T có nồng độ cồn trong máu là “Âm tính”.

Căn cứ vào Phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu số 02/YCXN, ngày 24/11/2017 của Bệnh viện đa khoa Khu vực HN, tỉnh Đồng Tháp đối với Nguyễn Văn H có nồng độ cồn trong máu là “2,1 gam/lít máu (210 miligam/100 mililit máu”.

Vật chứng vụ án Cơ quan điều tra đã thu giữ:

- 01 (Một) xe môtô biển số 74G1-022.46, số máy 013103, xe màu: đỏ-đen, tình trạng xe đã qua sử dụng, bị hư hỏng nhiều nơi.

- 01 (Một) xe môtô biển số 66H6-9672, số máy 0001353, xe màu xanh, tình trạng xe đã qua sử dụng, bị hư hỏng nhiều nơi.

Nguyên nhân gây ra tai nạn dẫn đến ông Nguyễn Thành T tử vong là do bị cáo Nguyễn Văn H điều khiển xe môtô biển số 66H6-9672 tham gia giao thông không chấp hành nghiêm các quy định về an toà n giao thông đường bộ như đi không đúng phần đường (lấn qua phần đường của bị hại 1,97m) và nồng độ cồn trong máu vượt mức quy định (210 miligam/100mililit máu).

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Văn H thành khẩn khai báo và đã khắc phục xong hậu quả; đại diện hợp pháp của gia đình bị hại Nguyễn Thành T có đơn yêu cầu không xử lý hình sự, dân sự đối với bị cáo Nguyễn Văn H.

Tại bản cáo trạng số: 29/CT-VKS-TXHN ngày 22 tháng 8 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa, luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H xác định hành vi của bị cáo đã phạm tội“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện hợp pháp của bị hại chị Trần Thị T N không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo và củng không yêu cầu bồi tH thêm về phần dân sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Do đó,Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 02 năm đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm; Về trách nhiệm dân sự, do bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi tH xong, tại phiên tòa không phát sinh gì thêm nên không đề nghị xem xét giải quyết; Về vật chứng vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 (Một) xe môtô biển số 66H6-9672, số máy 0001353, xe màu xanh, tình trạng xe đã qua sử dụng, bị hư hỏng nhiều nơi; Trả lại cho đại diện hợp pháp của bị hại là Nguyễn Văn Đ N và Trần thị T N 01 (Một) xe môtô biển số 74G1-022.46, số máy 013103, xe màu: đỏ- đen, tình trạng xe đã qua sử dụng, bị hư hỏng nhiều nơi.

Bị cáo Nguyễn Văn H thống nhất với nội dung luận tội của Kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Bị cáo Nguyễn Văn H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, khi điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 66H6-9672, có dung tích xi lanh 107cm3 tham gia giao thông có giấy phép lái xe theo quy định, khi tham gia giao thông trong cơ thể có chứa nồng độ cồn vượt mức quy định (210 miligam/100mililit máu) và điều khiển xe lưu thông không đúng phần đường theo quy định , nên đã gây ra tai nạn dẫn đến hậu quả làm cho cho anh Nguyễn Thành T tử vong.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã vi phạm vào khoản 8 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 của Luật giao thông đường bộ năm 2008.

Khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định:

“Điều khiển xe môtô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/ 100mililít máu hoặc 0,25 miligam/ 1 lít khí thở. ...”.

Khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ quy định:

“Người tham gia giao thông phải đi bên lề phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ...”.

Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 359/TTh-TTPY, ngày 23/11/2017 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Đồng Tháp, kết luận đối với Nguyễn Thành T như sau: “Tử thi Nguyễn Thành T, sinh năm 1991 - ĐKTT: khóm Mương Nhà Máy, phường AT, thị xã HN, tỉnh Đồng Tháp, tử vong do: Vỡ sọ, Dập và xuất huyết não”.

Căn cứ Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 23/11/2017.

Căn cứ phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu số: 02/YCXN ngày 24/11/2017 của bệnh viện đa khoa khu vực HN, tỉnh Đồng Tháp đối với Nguyễn Văn H.

Như vậy đã đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN đã truy tố.

Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo xãy ra trước 00 giờ 00 ngày 01 tháng 01 năm 2018, căn cứ quy định tại Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 và so sánh mức hình phạt tại khoản 2 Điều 202 quy định tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” của Bộ luật Hình sự năm 1999( được sửa đổi, bổ sung năm 2009) với mức hình phạt tại khoản 2 Điều 260 quy định tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” của Bộ luật Hình sự năm 2015 là như nhau và khi xét xử bị cáo thì Bộ luật Hình sự năm 2015 đang có hiệu lực pháp luật, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều luật của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xét xử đối với hành vi phạm tội của bị cáo.

Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a) Làm chết người;

b) ……………...;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a)………………;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác”.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông, do đó cần phải xử lý nghiêm đề thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[2] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, đã tự nguyện khắc phục xong hậu quả do hành vi phạm tội mà mình gây ra và 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Đại diện hợp pháp của người bị hại làm đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo, sau khi bị tai nạn bản thân bị cáo bị tổn thương cơ thể là 48%, bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do bệnh lý tâm thần.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy không cần bắt bị cáo cách ly ra khởi đời sống xã hội, mà căn cứ Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử cho bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo tH trú để giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện để giúp cho bị cáo trở thành một công dân tốt có ích cho gia đình và cho xã hội. Từ đó Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo về việc đề nghị xử cho bị cáo được hưởng án treo.

[3] Về vật chứng vụ án:

Đối với xe môtô biển số 74G1-022.46 do bị hại Nguyễn Thành T điều khiển, qua điều tra chủ sở hữu xe tên Nguyễn Viết Hoài, sinh năm 1982 – ngụ thôn Thượng Lâm, xã Cam Thành, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Tuy nhiên, qua xác minh ông Hoài đã bán xe môtô trên cho một Tiệm sửa xe máy ở thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương vào tháng 5/2015 nhưng không nhớ tên và địa chỉ cụ thể, sau đó anh Nguyễn Thành T mua lại không qua thủ tục sang tên, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên trả lại cho đại diện hợp pháp của bị hại là Trần Thị T N và Nguyễn Văn Đ N là phù hợp pháp luật.

Đối với xe môtô biển số 66H6-9672 do bị cáo Nguyễn Văn H điều khiển khi gây tai nạn, qua điều tra chủ sở hữu xe tên Nguyễn Văn Én, sinh năm 1964 – ngụ ấp An Hòa, xã AB A, thị xã HN, tỉnh Đồng Tháp, ông Én đã bán xe trên cho Cửa hàng Hoàng Sơn Năm Đang (Hoàng Sơn Phúc), đến ngày 26/02/2015 thì cửa hàng bán lại cho ông H nhưng không làm thủ tục sang tên chủ sở hữu. Xét thấy hiện nay bị cáo H đã thực hiện xong trách nhiệm bồi thường cho gia đình bị hại nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H là phù hợp pháp luật.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Trong giai đoạn điều tra, bị cáo Nguyễn Văn H đã tự nguyện bồi thường các khoản thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thành T số tiền là 30.000.000đồng và đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận tiền bồi thường xong, tại phiên tòa hôm nay không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

[5] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra,truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền,trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng,người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 03 (Ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 05/10/2018).

Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã AB A, thị xã HN, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 (Một) xe môtô biển số 66H6-9672, số máy 0001353, xe màu xanh, tình trạng xe đã qua sử dụng, bị hư hỏng nhiều nơi;

+ Trả lại cho đại diện hợp pháp của bị hại là Nguyễn Văn Đ N và Trần thị T N 01 (Một) xe môtô biển số 74G1-022.46, số máy 013103, xe màu: đỏ-đen, tình trạng xe đã qua sử dụng, bị hư hỏng nhiều nơi.

(Tất cả các vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự thị xã HN đang quản lý).

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban TH vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,giảm,thu, nộp,quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, luật sư bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 05/10/2018).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kề từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niên yết theo quy định pháp luật.


79
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về