Bản án 36/2018/HS-ST ngày 03/07/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 36/2018/HS-ST NGÀY 03/07/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 03 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 43/2018/TLST - HS ngày 05 tháng 6 năm 2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2018/QĐXXST - HS ngày 18/6/2018 đối với bị cáo:

Hoàng Thị L, sinh năm 1982, tại huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản M, xã V, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Thái; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Hoàng Văn C, sinh năm 1957, con bà Hoàng Thị X, sinh năm 1955, chồng là Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1976 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2006; Tiền sự: không; Tiền án:

- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 156/2004/HSSTngày 10/6/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 04 năm tù, về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, theo khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự.

- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 136/2006/HSST ngày 22/9/2006 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn La, tỉnh Sơn La tuyên phạt 24 tháng tù, về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 194; và 06 tháng tù về tội: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, theo khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự, bị cáo phải chấp chung của 2 tội là 30 tháng tù.

- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 06/2008/HSST ngày 23/01/2008 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La tuyên phạt 07 năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, theo điểm p khoản 2 Điều 194 BLHS, tổng hợp với hình phạt 30 tháng tù tại bản án số: 136/HSST/2006 ngày 22/9/2006 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn La, buộc bị cáo phải chấp hành chung là 09 năm 06 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt ngày 27/01/2016.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23 tháng 02 năm 2018 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ, ngày 22 tháng 02 năm 2018, Hoàng Thị L điều khiển xe máy của gia đình đến bản M, xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, Hoàng Thị L gặp một người đàn ông dân tộc Mông (không biết tên, địa chỉ), qua hỏi chuyện Hoàng Thị L biết người đàn ông có ma túy bán, Hoàng Thị L hỏi mua được 01 gói hêrôin với giá 200.000đ, có được hêrôin, Hoàng Thị L lấy một ít ra sử dụng số còn lại mang về nhà cất giấu. Đến khoảng 12 giờ ngày 23/02/2018 Hoàng Thị L mang theo hêrôin đi bộ đến nhà em gái tên là T (con gái của bố mẹ nuôi của L) ở cùng bản chơi. Khi Hoàng Thị L đến tiểu khu 6, thị trấn Yên Châu, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La thì bị tổ công tác Công an huyện Yên Châu phát hiện bắt quả tang, thu giữ:

- 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa bột màu trắng nghi là hêrôin do Hoàng Thị Lan tự giác giao nộp.

- 01 giấy chứng minh nhân dân số: 050440745 mang tên Hoàng Thị L.

Ngày 23/02/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Châu phối hợp với Phòng (PC54) Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, xác định trọng lượng tang vật thu giữ của Hoàng Thị L có trọng lượng 0,20 gam kí hiệu H gửi giám định chất ma túy tại phòng (PC54) Công an tỉnh Sơn La.

Tại bản kết luận giám định số: 325/KLMT ngày 02/3/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu vật gửi giám định ký hiệu H là chất ma túy; Loại chất hêrôin; Khối lượng là 0,20 gam.

Bản cáo trạng số: 29/CT-VKSYC ngày 04 tháng 6 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La truy tố Hoàng Thị L về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Thị L từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu hủy:   01 phong bì giấy màu trắng, bên trong gồm 01 mảnh giấy màu trắng + 01 phong bì đã móc mở.

Tuyên trả lại cho bị cáo Hoàng Thị L: 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Hoàng Thị Lan do Công an tỉnh Sơn La cấp ngày 10/02/2017.

Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Trong lời nói sau cùng bị cáo Hoàng Thị L tỏ thái độ ăn năn về hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1   Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2  Về tội danh:

Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Thị L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, số hêrôin bị thu giữ có nguồn gốc là do bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc Mông, khoảng 25 tuổi, không biết tên tuổi, địa chị với mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nộ dung gì thay đổi, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hoàng Thị L do tổ công tác Công an huyện Yên Châu lập hồi 12 giờ 30 phút, ngày 23/02/2018; biên bản thu giữ vật chứng, biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng lấy mẫu giám định, bản kết luận giám định số 325/KLMT, ngày 02/3/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận mẫu ký hiệu H gửi giám định là chất ma túy, loại chất hêrôin, khối lượng 0,20 gam. Lời khai của bị cáo phù hợp với  lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ của Cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ.

Khung hình phạt áp dụng: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 06/2008/HSST ngày 23/01/2008 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La tuyên phạt 07 năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, theo điểm p khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt 30 tháng tù tại bản án số: 136/HSST/2006 ngày 22/9/2006 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn La, buộc bị cáo phải chấp hành chung là 09 năm 06 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt ngày 27/01/2016, xét thấy bị cáo Hoàng Thị L đã tái phạm nguy hiểm, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Xét thấy tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 03 tiền án, chưa được xóa án tích nhưng lần phạm tội này xác định là tình tiết định khung nên không coi là tình tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo có nhân thân xấu là đối tượng nghiện ma túy, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

3  Vê hinh phat bô sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ.

Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

4  Về vật chứng:

Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong gồm 01 mảnh giấy màu trắng + 01 phong bì đã móc mở, là vật đựng vỏ gói niêm phong ban đầu không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Hoàng Thị L, xét không liên quan đến vụ án, cần tuyên trả lại cho bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hoàng Thị L khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 25 tuổi, không quen biết, không biết địa chỉ, không có ai biết, chứng kiến, vì vậy cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra mở rộng vụ án.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Hoàng Thị L 05 (năm) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/02/2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2.Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì giấy màu trắng, mặt trước ghi: “ Vật chứng nhập kho tang vật vụ Hoàng Thị L, bên trong gồm 01 mảnh giấy màu trắng + 01 phong bì đã móc mở”

Tuyên trả lại cho bị cáo 01 chứng minh nhân dân số: 050440745 mang tên Hoàng Thị L do Công an tỉnh Sơn La cấp ngày 10/02/2017.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Yên Châu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Châu ngày 05/6/2018).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Hoàng Thị L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Hoàng Thị L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


67
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 36/2018/HS-ST ngày 03/07/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:36/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Châu - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:03/07/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về