Bản án 36/2018/HNGĐ-ST ngày 01/08/2018 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 36/2018/HNGĐ-ST NGÀY 01/08/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 01 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 89/2018/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2018 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2018/QĐXX - ST ngày 17/7/2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị T, sinh năm 1979; có mặt.

Địa chỉ: thôn B, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình

- Bị đơn: Anh Vũ Văn C, sinh năm 1974;vắng mặt.

Địa chỉ: thôn B, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.

Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Phòng giam số 02, Trại giam số 05, thị trấn Thống Nhất, huyện Yên Định, tỉnh Thanh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 07/6/2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Đoàn Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị T và anh Vũ Văn C tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn vào ngày 21/01/1996 tại UBND xã V, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà anh C ở thôn B, xã V, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình và sinh được 01 con. Tháng 3 (âm lịch) năm 2001 anh C bị xử phạt tù về tội phạm liên quan đến ma túy, chị T có đi thăm nuôi anh C một lần rồi sau đó chị gửi con ở nhà bố mẹ đẻ để đi làm ở miền Nam. Khoảng năm 2002, 2003 khi anh C chấp hành xong án phạt tù có vào miền Nam tìm chị Thiền về vợ chồng chung sống nhưng chị T không về, từ đó chị và anh C không liên lạc và không quan tâm đến nhau nữa. Sau đó chị được biết anh C tiếp tục phạm tội bị xử phạt tù liên quan đến ma túy, đến tháng 6/2008 thì chị T về nhà bố mẹ đẻ chị sinh sống. Nay chị xác định không thể tiếp tục chung sống với anh C được nữa, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.

- Về quan hệ con chung: Chị T và anh C có 01 con chung là Vũ Quang H sinh ngày 18/3/1997, hiện đã trưởng thành nên chị T không yêu cầu Tòa an giải quyết.

- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng chị T không có tài sản chung, không vay nợ chung.

* Tại bản tự khai ngày 18/7/2018, bị đơn là anh Vũ Văn C trình bày: về điều kiện và thời gian kết hôn đúng như chị T trình bày. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống tại gia đình anh ở thôn B, xã V, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình và sinh được 01 con. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đển khoảng năm 2001 thì anh phải đi chấp hành án phạt tù. Khi anh chấp hành phạt tù chị T chỉ đến thăm anh có 01 lần, anh được gia đình cho biết là chị T gửi con ông bà ngoại đi miền Nam làm ăn. Khi anh ra tù anh đã vào niền Nam tìm chị T về vợ chồng chung sống nhưng chị T không về, sau đó anh tiếp tục bị xử phạt tù và hiện tại anh đang chấp hành án tại Trại giam số 5. Anh C xác định vợ chồng không còn tình cảm với nhau, chị T xin ly hôn thì anh cũng đồng ý ly hôn. Vợ chồng anh có 01 con chung là Vũ Quang H sinh ngày 18/3/1997 hiện nay đã trưởng thành. Vợ chồng anh không có tài sản chung, không vay nợ chung, không cho vay nợ chung.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình có quan điểm cho rằng Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng. Về ý kiến giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, chấp nhận cho chị T được ly hôn anh C.

Về quan hệ con chung: không đặt ra giải quyết. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: không có.

Về án phí: Áp dụng Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí

Tòa án, chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]- Về thủ tục tố tụng: Xét thấy, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn. Bị đơn có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

 [2] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND xã V để làm rõ tình trạng hôn nhân, tài sản chung vợ chồng, vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng với quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, chị Đoàn Thị T kết hôn với anh Vũ Văn C trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh C liên tục phải thi hành án phạt tù, chị T bỏ về nhà bố mẹ chị để sinh sống và nuôi con, vợ chồng không liên lạc và không quan tâm đến nhau. Nay chị T xin ly hôn và anh C cũng đồng ý ly hôn vì cả hai vợ chồng đều cảm thấy không còn tình cảm gì với nhau nữa. Xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị T và anh C là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải chấp nhận xử cho chị T được ly hôn anh C là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

 [4]Về quan hệ con chung: Chị T và anh C có 01 con chung là Vũ Quang Hsinh ngày 18/3/1997, hiện đã trưởng thành nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

 [5] Về quan hệ tài sản: Chị T và anh C không có tài sản chung, không vay nợ chung.

[6] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đoàn Thị T được ly hôn anh Vũ VănC.

2. Về tài sản chung, nợ chung: không có.

3. Về án phí: Chị Đoàn Thị T phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đồng, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số 00001038 ngày 05/6/2018của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Chị Đoàn Thị T đã nộp xong án phí ly hôn sơ thẩm.

4. Về quyển kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


71
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 36/2018/HNGĐ-ST ngày 01/08/2018 về ly hôn

Số hiệu:36/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kiến Xương - Thái Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:01/08/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về