Bản án 358/2019/HS-PT ngày 27/08/2019 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 358/2019/HS-PT NGÀY 27/08/2019 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 27 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 280/2019/HSPT ngày 15/7/2019 đối với bị cáo Lương Duy T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 90/2019/HSST ngày 29/05/2019 của Tòa án nhân dân Quận 12.

Bị cáo có kháng cáo:

Lương Duy T, sinh năm: 1994 tại Bến Tre; nơi thường trú: ấp An Nhơn 2, xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre; tại phiên tòa bị cáo khai tạm trú tại: Số 54/2D ấp N.L, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn P và bà Lê Thị T; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cuối năm 2015, do cần tiền tiêu sài, Lương Duy T vào mạng Internet tìm mua 01 CMND và 01 giấy phép lái xe tên Tạ Tấn Phát của một thanh niên (không rõ lai lịch) với giá 300.000 đồng. Sau đó, T gọi điện đến tổng đài 08- 38999666 của Công ty Tài chính Home Credit có trụ sở tại Phường 25, quận Bình Thạnh đề nghị lập hồ sơ vay tiền mua trả góp điện thoại thông qua công ty bán điện thoại “Thế giới di động” thì được công ty này đồng ý. T đã thay ảnh của mình vào CMND giả, đến ngày 08/12/2015 T mang Chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe đến cửa hàng bán điện thoại “thế giới di động” thuộc Công ty “Thế giới di động” số 222 Trường Chinh, phường T Hưng Thuận, Quận 12 ký hợp đồng vay tiền với Công ty Home Credit để mua trả góp 01 điện thoại di động hiệu OPPO R7S với giá 9.490.000 đồng. T phải trả trước 20% tương đương 2.000.000 đồng, cộng cả phí bảo hiểm, số tiền mà T vay của Home Credit là 7.847.000 đồng, thời hạn trả góp là 09 tháng, lãi suất 6,68%/tháng. Cùng ngày Home Credit đã chuyển trả số tiền trên hợp đồng vay cho Công ty Thế giới di động và T đã nhận chiếc điện thoại di động hiệu OPPO R7S. Sau khi nhận được điện thoại, T đã đem bán chiếc điện thoại trên cho một phụ nữ (không rõ lai lịch) tại ngã tư Bà Điểm, Hóc Môn với giá 6.500.000 tiêu xài và không đóng tiền trả góp cho Home credit. Đối với Chứng minh nhân dân và và Giấy phép lái xe sau khi sử dụng để vay tiền của Hom Credit, T đã đem vứt bỏ, không thu hồi được. Ngày 24/02/2017, Công ty Home Credit đã có đơn tố cáo T chiếm đoạt 11.459.000 đồng, việc chênh lệch 3.612.000 đồng đây là tiền mà Home credit tính tiền lãi và tiền phạt do T chậm nộp, T đã nộp lại số tiền 7.847.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra Lương Duy T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 90/2019/HSST ngày 29/5/2019 của Tòa án nhân dân Quận 12 đã tuyên bố bị cáo Lương Duy T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999; các điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 xử phạt Lương Duy T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 11/6/2019, bị cáo Lương Duy T kháng cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 12 xin được hưởng án treo để có điều kiện chăm sóc ông ngoại đang bị bệnh.

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, bị cáo Lương Duy T đã thừa nhận những hành vi phạm tội do bị cáo gây ra như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo với lý do đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn; việc bị cáo đi khỏi nơi cư trú là do về quê chăm sóc ông ngoại bị bệnh chứ không phải là bị cáo bỏ trốn.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xác định bản án sơ thẩm đã áp dụng đúng các căn cứ pháp luật để xử phạt bị cáo Lương Duy T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo kháng cáo trong thời gian hợp lệ. Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, thể hiện thái độ ăn năn hối cải mong muốn được hội đồng xét xử xem xét cho hưởng án treo. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp, tại phiên tòa bị cáo cũng không nêu thêm được tình tiết giảm nhẹ nào mới, bản thân bị cáo quá trình tại ngoại đã bỏ đi khỏi nơi cư trú, gây khó khăn cho việc xét xử đã bị Tòa án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát đề nghị truy nã nên thuộc trường hợp không cho hưởng án treo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo Lương Duy T không tranh luận, chỉ nói lời sau cùng xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 12, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân Quận 12, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân Quận 12, Thẩm phán trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, bị cáo Lương Duy T đã thừa nhận hành vi sai trái do bị cáo gây ra tương tự như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Cụ thể: vì cần tiền tiêu xài nên bị cáo đã nảy sinh ý định lừa đảo để chiếm đoạt tiền của người khác. Cuối năm 2015, bị cáo vào mạng Internet tìm mua 01 Chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe tên Tạ Tấn Phát của một thanh niên (không rõ lai lịch) với giá 300.000 đồng rồi gọi điện đến Công ty tài chính Home credit đề nghị lập hồ sơ vay tiền mua trả góp điện thoại thông qua công ty bán điện thoại “thế giới di động”. Bị cáo đã thay ảnh của bản thân vào, mang Chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe đến cửa hàng bán điện thoại “thế giới di động” số 222 đường Trường Chinh, phường T Hưng Thuận, Quận 12 ký hợp đồng vay tiền với công ty Home credit để mua trả góp 01 điện thoại di động hiệu OPPO R7S với giá 9.490.000 đồng, trả trước 2.000.000 đồng; còn lại vay của Công ty Home credit là 7.847.000 đồng (bao gồm cả phí bảo hiểm). Công ty Home Credit đã thanh toán bố tiền trên cho Công ty Thế giới di động và bị cáo đã nhận chiếc điện thoại di động hiệu OPPO R7S. Sau khi nhận được điện thoại, bị cáo đã đem bán chiếc điện thoại trên cho một phụ nữ (không rõ lai lịch) tại ngã tư Bà Điểm, Hóc Môn với giá 6.500.000 tiêu xài và không đóng tiền trả góp cho Home Credit.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác như các biên bản hoạt động điều tra, biên bản hỏi cung bị can, lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ… Hành vi dùng giấy tờ mang tên người khác rồi dán ảnh của bản thân vào, dùng giấy tờ này vay tiền mua sắm điện thoại di động rồi bán lấy tiền tiêu xài, không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác nên có đủ cơ sở xác định án sơ thẩm tuyên xử bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 là đúng người, đúng tội, không oan sai.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; đã nộp lại số tiền chiếm đoạt nhằm khắc phục hậu quả; gia đình có công với cách mạng theo các điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

[4] Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, tại phiên tòa hôm nay bị cáo mong muốn được được hưởng án treo nhưng không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới; quá trình xét xử sơ thẩm bị cáo đã bỏ đi khỏi nơi cư trú, vi phạm Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, gây khó khăn cho việc xét xử, Tòa án sơ thẩm đã trả hồ sơ đề nghị truy nã đối với bị cáo thuộc trường hợp không cho hưởng án treo theo khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hộ, cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá đầy đủ tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, mức án 09 (chín) tháng tù đã tuyên là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt mà bản án sơ thẩm đã tuyên.

Do không chấp nhận kháng cáo nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Đối với hành vi của bị cáo mua giấy tờ mang tên người khác rồi lấy ảnh của mình dán vào sử dụng vào mục đích phạm tội, do không thu được các giấy tờ bản chính nên chưa có tài liệu để giám định so sánh, xác định là giấy giả. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, thu thập làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.

Các vấn đề khác không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lương Duy T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 90/2019/HSST ngày 29/5/2019 của Tòa án nhân dân Quận 12.

Tuyên bố bị cáo Lương Duy T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; các điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt Lương Duy T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


90
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về