Bản án 35/2021/HNGĐ-ST ngày 15/04/2021 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC - TỈNH LONG AN

 BẢN ÁN 35/2021/HNGĐ-ST NGÀY 15/04/2021 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON CHUNG

Ngày 15 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:523/2020/TLST-HNGĐ ngày 08/12/2020 về việc “Tranh chấp về ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim L, sinh năm 1982 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp 9, xã Lương H, huyện Bến L, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Ông Lò Văn Q, sinh năm 1981 (vắng mặt);

Địa chỉ: khóm 5, thị trấn Càng L, huyện Càng L, tỉnh Trà Vinh. Tạm trú: ấp Thanh H, xã Thanh P, huyện Bến L, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 11/11/2020, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt ngày 14/4/2021 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Thị Kim L trình bày như sau:

Sau thời gian quen biết, tìm hiểu nên giữa bà Lê Thị Kim L và ông Lò Văn Q tiến đến hôn nhân, ông bà có đăng ký kết hôn và được Uy ban nhân dân xã Lương Hòa, huyện Bến Lức, tỉnh Long An cấp giấy chưng nhân đăng ky kết hôn ngay 29/9/2006. Thơi gian đầu chung sống hanh phuc và có 02 con chung; thơi gian sau đó, giưa ông ba phat sinh nhiều mâu thuân; nguyên nhân là do vợ chồng không cùng quan điểm trong công việc, gia đình; vợ chồng hay cãi vã về chuyện nuôi dạy con cái, phát triển kinh tế gia đình. Ông ba đa ly thân tư năm 2010 cho đến nay nhưng cũng không ai co thiên chi han gắn tinh cam vơ chồng. Nay xet thấy tinh cam vơ chồng không con, muc đich hôn nhân không đat đươc nên bà L khởi kiện yêu cầu Toa an giai quyết nhưng vấn đề sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Kim L yêu cầu được ly hôn với ông Lò Văn Q.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà L và ông Q có 02 con chung tên Lò Văn Phương, sinh ngày 27/01/2007 và Lò Thị Hồng Ánh, sinh ngày 16/02/2009. Hiện nay, cháu Phương, cháu Ánh đang sống chung với bà L. Khi Tòa án giải quyết cho bà L được ly hôn với ông Q thì bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phương, cháu Ánh, bà L không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà L xác định, bà L và ông Q không có tài sản chung, nợ chung nên bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Bến Lức căn cứ quy định tại các Điều 196, Điều 199 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của tòa án gồm: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, ghi ý kiến của bị đơn ông Lò Văn Q đối với yêu cầu khởi kiện của bà L. Tuy nhiên, bị đơn ông Q cố tình vắng mặt và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo pháp luật tố tụng và các đương sự trong vụ án đã chấp hành pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung vụ án: Bà L và ông Q xác lập quan hệ vợ chồng, có đăng ký kết hôn và được Uy ban nhân dân xã Lương Hòa, huyện Bến Lức, tỉnh Long An cấp giấy chưng nhân đăng ky kết hôn ngay 29/9/2006 nên hôn nhân giữa bà L và ông Q là hôn nhân hợp pháp.

Xét nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mâu thuẫn là do vợ chồng không cùng quan điểm trong công việc, gia đình; vợ chồng hay cãi vã về chuyện nuôi dạy con cái, phát triển kinh tế gia đình. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2010 cho đến nay nhưng cũng không ai có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng; bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà L được ly hôn với ông Q; ông Q được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để ghi nhận ý kiến của ông Q đối với yêu cầu khởi kiện của bà L, để vợ chồng đoàn tụ nhưng ông Q cố tình vắng mặt, phần nào thể hiện ông Q không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, chứng tỏ tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đo, đề nghị Hôi đồng xet xư chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà L và ông Q có 02 con chung tên Lò Văn Phương, sinh ngày 27/01/2007 và Lò Thị Hồng Ánh, sinh ngày 16/02/2009. Hiện nay, cháu Phương, cháu Ánh đang sống chung với bà L. Do đó, để tạo điều kiện tốt nhất cho cháu Phương, cháu Ánh được phát triển khỏe mạnh và theo nguyện vọng của các cháu là muốn sống chung với bà L nên đề nghị Hôi đồng xet xư giao cháu Phương, cháu Ánh cho bà L được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung với ông Q. Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung”.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Lò Văn Q có đăng ký tạm trú tại huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Căn cứ khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An có thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

[3] Về vắng mặt đương sự tại phiên tòa: Bị đơn ông Lò Văn Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn cố tình vắng mặt. Nguyên đơn bà Lê Thị Kim L, trong quá trình giải quyết vụ án có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Do đó, Tòa án căn cứ khoản 1, 3 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Q, bà L.

[4] Xét yêu cầu ly hôn của bà Diễm thấy rằng:

[4.1] Bà L và ông Q xác lập quan hệ vợ chồng, có đăng ký kết hôn và được Uy ban nhân dân xã Lương Hòa, huyện Bến Lức, tỉnh Long An cấp giấy chưng nhân đăng ky kết hôn ngay 29/9/2006 nên hôn nhân giữa bà L và ông Q là hôn nhân hợp pháp.

[4.2] Xét nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mâu thuẫn là do vợ chồng không cùng quan điểm trong công việc, gia đình; vợ chồng hay cãi vã về chuyện nuôi dạy con cái, phát triển kinh tế gia đình. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2010 cho đến nay nhưng cũng không ai có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng; bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà L được ly hôn với ông Q; ông Q được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để ghi nhận ý kiến của ông Q đối với yêu cầu khởi kiện của bà L, để vợ chồng đoàn tụ nhưng ông Q cố tình vắng mặt, phần nào thể hiện ông Q không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, chứng tỏ tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Q là có căn cứ. Do đo, Hôi đồng xet xư chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L.

[5] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà L và ông Q có 02 con chung tên Lò Văn Phương, sinh ngày 27/01/2007 và Lò Thị Hồng Ánh, sinh ngày 16/02/2009. Hiện nay, cháu Phương, cháu Ánh đang sống chung với bà L. Do đó, để tạo điều kiện tốt nhất cho cháu Phương, cháu Ánh được phát triển khỏe mạnh và theo nguyện vọng của các cháu là muốn sống chung với bà L nên Hôi đồng xet xư giao cháu Phương, cháu Ánh cho bà L được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.

[7] Về án phí: Bà L phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ vào Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim L về việc "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung" với ông Lò Văn Q.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Kim L được ly hôn với ông Lò Văn Q.

2. Về con chung: Bà Lê Thị Kim L được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Lò Văn Phương, sinh ngày 27/01/2007 và Lò Thị Hồng Ánh, sinh ngày 16/02/2009. Ông Lò Văn Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bên không nuôi con vẫn có quyền và nghĩa vụ tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản, vì lợi ích của con chung khi có yêu cầu một hoặc hai bên đương sự Toà án có thể quyết định thay đổi việc nuôi dưỡng hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Bà Lê Thị Kim L phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000đồng tạm ứng án phí bà L đã nộp theo biên lai thu số 000.2619 ngày 07/12/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, bà L đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo đối với bản án: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo qui định pháp luật.


66
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án 35/2021/HNGĐ-ST ngày 15/04/2021 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

Số hiệu:35/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bến Lức - Long An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:15/04/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về